Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

NHỮNG KHOẢNH KHẮC KHÔNG QUÊN



Nhng Khonh Khc Chưa Quên
Trang Y H





Tôi rời Kontum từ ngày mười sáu, tháng ba, năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm trên con đường 7B - từ Cheo reo về Củng Sơn, Tuy Hòa. Và tôi đã ghi lại trong "Đêm Bên Bờ Sông Ba" nói lên tình cảnh "Di Tản Chiến Thuật" của quân và dân Kontum, Pleiku - đã âm thầm và hỗn loạn rời khỏi Cao Nguyên trong nuối tiếc và bất lực! Máu, mồ hôi và nước mắt đổ xuống trên con đường mòn 7B. Bên dòng sông Krong Pa. Dòng sông chứng kiến cảnh ngậm ngùi chia ly và thất lạc nhau mà cho đến mãi tận bây giờ những người trong gia đình chạy theocuộc "di tản" năm xưa đó vẫn chưa tìm được người thân cho một lần đoàn tụ!

        Trên đoạn đường gian nan và máu lửa đó. Tôi và một số người dân may mắn thoát vể thành phố Tuy Hòa vào một chiều ngày mười chín tháng ba.Đêm ấy chúng tôi ở tạm trong nhà một người dân tốt bụng ven Thị Xã. Người chủ nhà là một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi vẻ mặt hiền lành. Ông ta rất là "bình thản" với công việc hằng ngày, không thấy có vẻ gì lo âu hay chuẩn bị di tản như chúng tôi. Ông chuẩn bị cơm nước cho chúng tôi thật chu đáo, và sắp xếp chỗ cho chúng tôi ngủ - dù là ngủ ngoài hiên vì nhà ông cũng quá nhỏ. Thỉnh thoảng ông ta thở dài và nói với chúng tôi: "Hòa bình sắp đến rồi, chạy đi đâu cho khổ hở bà con?". Đối với những người phụ nữ và trẻ con thì họ không hiểu lời ông ta nói, nhưng đối với tôi - câu nói của người chủ nhà thật sự làm cho tôi lo lắng! Và suốt đêm đó tôi ngồi chờ trời sáng.

        Quốc lộ một đoạn Tuy Hòa trong những ngày tháng ba người dân và quân đội di tản từ những tỉnh miền ngoài đổ vào Nam - xe quân sự, xe dân sự kể cả người đi bộ chật không còn chỗ chen chân. Ai cũng túm tụm một giỏ hành lý bên người. Khổ nhất là những người phụ nữ! Tay xách nách mang..., con thơ khóc ngằn nghặt bởi khát sữa, mỏi mệt... Nhất là không khí oi bức của nắng nóng miền Trung. Vậy mới biết dù sống trong cảnh thanh bình người phụ nữ vẫn khổ bởi làm lụng nuôi con, nuôi cha mẹ thay chồng đi giữ nước. Chiến sự xãy ra... Người phụ nữ càng đau khổ nhọc nhằn gấp hàng trăm lần! Chúng tôi khó khăn lắm mới thuê được chiếc xe "Dashu" với cái giá  khá cao để chạy vô Nha Trang. Nhưng người chủ xe ngần ngừ "sợ" không muốn chạy. Ông ta nói: " Vô Nha Trang sợ bị kẹt đường không trở ra được bởi gia đình ông cũng chuẩn bị xuống ghe nhà đi di tản". Chúng tôi năn nỉ quá ông mới miễn cưỡng chạy. Vô Nha Trang, chúng tôi thấy bến xe đò vẫn còn tấp nập nhưng không hỗn loạn, giá cả có nhích lên chút đỉnh chẳng qua là khan hiếm xăng dầu chứ thật ra không có cảnh "chặt chém". Người dân Nha Trang cũng rục rịch đi tản như chúng tôi nhưng không có gì gấp gáp.

        Đến Phan Thiết tôi ở tạm nhà bà con mấy hôm, tình hình trong thị xã vẫn còn yên tỉnh, người dân đổ xô ra ngân hàng rút tiền. Tôi lại nghe tin cộng quân đánh lớn ở ngả ba Bình Tuy và ngả ba ông Đồn cũng bị Cộng quân chặn. Như vậy đường bộ về Sài Gòn coi như không thể đi được. Người bà con của tôi sống lâu đời tại Phan Thiết bằng nghề đánh bắt cá nên quen biết nhiều chủ ghe buôn hàng từ: Sai Gòn - Phan Thiết và ngược lại. Vậy là một chuyến đi đường biển cho tôi vô Sai Gòn được người bà con sắp xếp cẩn thận. Tôi ăn mặc như người dân đi buôn. Đúng sáu giờ sáng tôi xuống ghe và lênh đênh trên biển, hai ngày sau ghe cập bến Chánh Hưng, quận Tám.

        Tôi chạy về nhà xưởng ông anh ở Cầu Tre, trên đường Hương Lộ 14 để báo tin... Sau đó, tôi về trình diện Bộ Nội Vụ. Nơi đây phối trí tôi ra Làng Đại Học Thủ Đức - làm công tác tiếp cư.

        Làng Đại Học Thủ Đức xây dựng chưa xong nhiều nơi còn ngổn ngang cát đá. Người chạy loạn các nơi chạy về được "Tổ Tiếp Cư" tiếp nhận cho vào ở trên các tầng lầu, đồng bào tạm cư được phát chiếu, thùng nhựa đựng nước và thực phẩm. Chỗ ănở rộng rãi thoáng mát. Nhưng đồng bào chạy loạn đỗ về càng ngày càng đông thành ra chật chội, ngay cả hành lang, cầu thang cũng kín người - nằm ngồi la liệt... Ruồi muỗi và không khí ô nhiễm bắt đầu tấn công. Toán tiếp cư chỉ lo thực phẩm đã không xuể còn nhân lực đâu mà tính đến chuyện khác. Hằng ngày đồng bào từng giờ lắng nghe đài BBC đưa tin về chiến sự - tất cả tin tức từ đài nầy loan đi đều bi quan: "Nay mất tỉnh nầy, mai mất vùng nọ..."! Một đồn mười, mười đồn trăm, gây một nổi hoang mang trên từng khuôn mặt mỗi người. Họ lo lắng, sợ sệt vì gia đình nào cũng có người thất lạc nhau; bị thương, bị mất tích và chết!

        Một buổi chiều ngày 21.4. 1975, mọi người quây quầng để theo dõi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đọc diễn văn từ chức. Họ lắng nghe say sưa, mặt người nào người nấy lộ vẻ đăm chiêu, thở dài...Những đôi mắt nhìn nhau như vô hồn. Khi Tổng Thống đọc bài diễn văn xong. Mọi người thẫn thờ bước đi loanh quanh mang theo một tâm trạng chán chường, hoang mang. Hình như đồng bào đã linh cảm một cái gì đó ập xuống trên đầu mà không biết lúc nào? Tôi và mọi người còn nghe tin nói rằng: "Sẽ chia đôi miền nam, từ Tuy Hòa trở ra Huế là của Mặt Trận Giải Phóng Miền NamCòn từ Tuy Hòa trở vào là của Việt Nam Cộng Hòa". Do đó đồng bào bằng mọi giá phải theo Quốc Gia vô địa phận Nha Trang cho chắc chắn. Dù bằng đường bộ hay đường biển cũng phải chạy.

        Thế rồi Cộng quân tràn vô Sai Gòn! Sáng ngày 30.4.1975, đồng bào chạy loạn tại Làng đại học Thủ Đức kéo nhau vô Sai Gòn tìm xe về quê. Còn người trong nội thành Sai Gòn thì ùn ùn kéo nhau đổ trở ra.Một cảnh kẹt xe khủng khiếp ngay tại ngả tư Hàng Xanh. Tại quân cảng - cầu Sai Gòn, kho gạo và thực phẩm khô tại đây bị phá, mặc cho mọi người hôi của.Tuy nhiên chẳng tìm đâu ra được một nụ cười trên môi. Mấy ông cách-mạng-ba-mươi, trên tay đeo băng đỏ - mặt mày "lên đời, rất ư là nghiêm nghị, miệng luôn quát tháo..."!

        Tôi trở về nhà ông anh, thân xác mệt mỏi lẫn chán nản không biết số phận của mình trong những ngày sắp tới sẽ ra sao. Ngoài đường người ta treo cờ" Mặt trận giải phóng, cờ đỏ sao vàng" còn các thanh niên cũng tự tìm việc gì đó để làm nhằm thể hiện "tấm lòng tha thiết" đối với cách mạng. Trong nhà ai có đồ đạc quần áo dính líu đến Mỹ Ngụy như: Sách vở, muỗng inox, đồ lính trận... tất cả đều đem ra đường bỏ hoặc giấu kỹ. Các cô gái lo cắt cụt hết các móng tay vì nghe đâu cách mạng vô sẽ rút móng nếu cô nào còn để móng tay dài, mỹ phẩm son phấn cũng đem ra đường vứt bỏ. Tin khủng khiếp là ép gả các cô gái cho thương binh cách mạng! Những người làm việc cho "chế độ ngụy" thì phập phồng lo sợ! Hễ nghe ở đâu đó có "cán bộ cách mạng" họp dân... Dù không ai mời cũng lăn xăn chạy đến nghe ngóng "chính sách khoan hồng của cách mạng" như thế nào? Để biết số phận của mình được định đoạt ra sao? Nhà cửa có bị tịch thu không? Đi "học tập cải tạo" lâu hay mau? Hàng trăm câu hỏi đặt ra mà không ai biết để trả lời. Chỉ đoán già, đoán non... !Thời gian cứ lấp lửng chầm chậm trôi qua trên những khuôn mặt lo lắng...

        Tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, những anh chị em Thương Bệnh Binh được "ưu ái mời ra đường", dù trên người mang lỉnh kỉnh dây truyền dịch, bông băng... Tất cả bò lê, bò lết tìm đường về quê. Ai không có quê, không có người thân thì lang thang trông chờ người hảo tâm... Nhưng trong bối cảnh "hỗn quân, hỗn quan" nầy ai cũng lo cho bản thân và gia đình. Tấm lòng nhân ái không phải không có.Mọi người chỉ giúp đỡ trong khoảnh khắc nào thôi.Tất cả vô nhà Thờ, nhà Chùa để tạm sống. Không riêng gì tại Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Sai Gòn mà có lẽ hầu hết các Quân Y Viện trên toàn miền Nam đều cùng chung một số phận như vậy!

        Tôi đến trình diện "Ủy Ban Quân Quản" tại tỉnh Hành Chánh Gia Định. "Chính quyền cách mạng" tại đây cấp cho tôi miếng giấy to cỡ bẳng bốn ngón tay. Người cấp giấy nói: "...về nhà chờ gọi đi "học tập... !". Nhìn những người Bộ đội ở trần, đội nón cối nấuăn phía sau. Họ nói cười vui vẻ! Thật đúng là một ngày "Hòa Bình Thống Nhất" của họ! Trong lòng tôi không thấy thống nhất? Hoàn toàn xa lạ và hụt hẫng, mất mác! Những khuôn mặt thất thần, hoảng sợ bước nhanh qua đường như chạy trốn - chạy trốn nơi đâu mới được chứ?

        Ông anh tôi làm kỹ thuật cơ khí cho xưởng "Nhựa Bao Bì" ở cầu Tre. Ông chủ xưởng là người Hoa, cũng là anh em kết-nghĩa với ông anh của tôi.Ông chủ lấy vợ Việt, người Cần Thơ. Vợ chồng ở với nhau lâu ngày mà không có con. Gia đình bên vợ ông ở dưới quê khó khăn nên trai gái đều dồn hết lên làm công nhân trong xưởng nhựa. Trong số đó có cô em vợ rất xinh. Gia đình cố ý dàn xếp cho cô nầy làm vợ ông chủ (hai chị em lấy chung một chồng), và sinh được hai trai, hai gái. Cô nầy có người anh trai tên Hòa, dáng người to lớn, vẻ mặt hiền, tính tình vui vẻ dễ bắt chuyện. Anh ta giữ chức vụ điều hành công nhân trong một phân xưởng. Công nhân đa phần người Việt.

        Hồi còn ở Kontum. Hàng tháng vào ngày hai mươi mốt tây mỗi tháng, tôi ôm hồ sơ lương về Sai Gòn nộp và nhận chi phiếu tại Tổng Nha Tài chánh trên đường Nguyễn Huệ. Sau đó đem về Ngân Khố tỉnh lãnh tiền phát lương cho đơn vị. Thời gian đi về theo Sự-Vụ-Lệnh là bảy ngày, đi bằng đường Hàng Không Dân Sự, đôi khi cũng đi bằng máy bay quân sự: C 47,  CaribuCông việc tài chánh nhanh thì khoảng chừng ba ngày là xong, thời gian còn lại tôi đi chơi hoặc vô Thư Viện.

        Vợ chồng ông anh tôi và những người ở dưới quê lên làm công đều ăn ở tại xưởng. Mỗi lần tôi về Sai Gòn tôi đều ở nhà anh chị trong xưởng. Tối đến, tôi thường uống bia với anh Hòa (em vợ cũng vừa là anh vợ) của ông chủ xưởng, hoặc đánh cờ tướng với anh Sồi Chảy. Anh Sồi Chảy là người Hoa, anh ấy rất ghét ông Tổng Thống Thiệu (có lẽ vì xu hướng hay cảm tính...?). Cuộc biểu tình của sinh viên nào anh cũng bỏ công việc đi tham gia - mặc dù anh chẳng phải là sinh viên. Nhưng anh có cảm tình với tôi, dù biết tôi là viên chức của chính phủ VNCH.Tôi cũng được ông anh (bỏ nhỏ) : "Đừng có nói nhiều...(?)".

        Ngày "Giải phóng" tôi thấy anh Hòa mang súng AK 47, mặc đồ Bộ đội. Còn anh Sồi Chảy và một số anh chị em công nhân trong xưởng nhựa mang băng đỏ suốt ngày chạy ngoài đường. Nào đi đón Bộ đội ở Dinh Độc Lập! Nào mừng lễ ngày lao động một tháng năm! Nào là lo ăn uống cho gần mười anh Bộ đội miền Bắc đang ở trong xưởng. Nhìn chung cái xưởng là "cơ sở cách mạng" đã có từ lâu nay, bây giờ mới đường hoàng lộ diện (tôi nghĩ vậy). Đối với tôi "họ" vẫn vui vẻ như ngày nào. Nhưng hình như có cái gì đó lạ lạ,... như ngăn cách mà cũng như không...

        Xưởng nhựa vẫn hoạt động cầm chừng, công nhân tự động về quê chỉ còn lại khoảng mươi người - toàn người trong gia đình. Ông chủ suốt ngày uống rượu, trông ông tiều tụy, chán nản. Bà chủ nhỏ mơnmởn cùng anh trung úy bộ đội trẻ "quản lý" công việc... Bà chủ lớn lo vườn cây trái ở Cái Bè.

        Phụ trách về kỹ thuật nên ông anh tôi được lệnh cho vận hành máy. Xưởng hoạt động cầm chừng, rỗi rảnh anh tôi ngồi uống bia cùng với mấy ông bộ đội miền Bắc. Đôi khi tôi cũng tham dự và nghe các ông ấy nói: "Ngoài miền Bắc chúng tôi đã tiến nên chủ nghĩa xã hội. Được sự giúp đỡ vô cùng to lớn của ông Liên xô và ông Trung Quốc... Do đó, người dân miền Bắc chúng tôi - đời sống - nói chung rất "nà" sung sướng!". Chúng tôi chỉ biết nghe và nghe, chẳng hiểu "chủ nghĩa xã hội" là cái chủ nghĩa...chi chi - mà sao sung sướng quá vậy...?

        Những tòa nhà chính phủ VNCH, những nhà dân bỏ đi "di tản" - Bộ đội vào chiếm đóng, các ông "vô tư" đập hết các cánh cửa lấy củi nấu ăn khói bay mù trời... Chúng tôi để ý thấy mấy ổng không bao giờ đi lẻ tẻ, lúc nào đi cũng ba bốn người với nhau.Trẻ nhỏ bu quanh xem các chú bộ đội đông nghịt.Tôi thấy có người đàn ông già nua lật tìm trong những đống sách vứt bỏ ngoài đường, và gom lại - đem đi? Tôi cũng thấy có người mẹ già nua gom giày, quần áo của "lính ngụy , cờ ngụy" - đem đi?Tôi cũng thấy có người chị gom những tấm hình các loại còn rất đẹp - đem đi? Tôi cũng thấy có người đưa quan tài ra Nghĩa Trang hay đi đâu không biết nữa...!

        Tôi đi "học tập cải tạo" trở về! Thời gian bảy năm trôi qua kể ra cũng quá lâu! Những đổi thay bên ngoài như: Đổi tiền, đánh tư sản, kinh tế mới, vượt biên, và nhất là tin "chiến tranh biên giới Việt Trung" chúng tôi hoàn toàn không hay biết. Có biết chăng chỉ nghe loáng thoáng qua sự rỉ tai của một số anh em "cải tạo viên" nhạy bén bắt được (tần số) của người thân trong lúc thăm nuôi. Dù tam sao thất bổn nhưng cũng rất là:  "hồ hởi" ! Nhưng không có "bức xúc"...

        Ở trong trại "cải tạo", khi "thăm nuôi". Tôi nghe mẹ tôi nói - anh tôi vẫn còn làm việc trong xưởng nhựa như cũ. Xưởng không bị tịch thu trong lần đánh "tư sản mại bản, công thương nghiệp". Ngày về tôi rất háo hức đi vô Sai Gòn thăm vợ chồng anh chị, các cháu, và những nơi tôi đã từng đi qua - những nơi hò hẹn tình yêu, bạn hữu... Nhưng khổ nỗi không có tiền đi xe, quần áo cũng không có. Suốt tuần ở trong rẫy cưa củi đốt than, xẻ gỗ bán. May ra cũng chỉ đủ ăn mà thôi. Một phần còn bị quản chế. Chiều thứ bảy thồ nông sản hay than củi về nhà, sáng chúa nhật đi dự lễ nhà Thờ. Sáng thứ lại vào rừng. Ngày ngày cứ nối đuôi nhau cuốn hút trôi đi không thể tách ra được.

        Rồi dịp may cũng đến! Cha Carat chính xứ họ đạo của tôi ngày xưa. Năm 1972 Cha bị VC bắt và trả về Pháp sau năm 1975. Từ bên Pháp, Cha gởi cho một ký thuốc Tây (ba tháng cho một lần, mỗi lần một ký).  Anh em tôi ai có gia đình cũng nhận được quà của Cha. Vậy là gia đình tôi được ưu tiên vô "diện có thân nhân ở nước ngoài", hơn nữa là dân Thiên Chúa Giáo, cần phải "quản lý" đặc biệt. Mỗi khi thấy ông bưu tín viên đem giấy báo nhận quà đến nhà - cả nhà ai cũng mừng rỡ! phải lo tiền "làm quà" cho ông ấy và cảm ơn rối rít...!

        Sau "giải phóng" tất cả xe đò đều chuyển qua chạy than, thứ than củi người dân đốt đem ra bán, trong đó có tôi. Xe nào cũng đeo phía sau cái thùng lửa bự choảng. Anh lơ xe lúc nào cũng ngồi gần thùng than - vừa đón khách, vừa thu tiền, vừa "chăm sóc" thùng than. Xe trèo dốc hơi yếu là anh ta lấy cục canh bánh xe gõ gõ... mạnh vào thùng than. Hành khách ngồi trên xe mặt mày, quần áo dính đầy bụi than. Chúng tôi ở Căn Cứ phải đón xe lên Long Khánh. Từ Long Khánh muốn đi "thành phố Hồ Chí Minh" cũng phải xếp hàng mua vé. Vé ưu tiên cho: "Bộ đội, gia đình có công với cách mạng, cán bộ đi công tác trước". Cuối cùng mới đến người dân - mua được vài người là hết vé! Lại phải chờ chuyến sau!

        Nhận được ký thuốc phải đi vô "thành phố Hồ Chí Minh" bán, đi về mất hai ngày công. Nhà nước quy định số quà "Việt Kiều"  gởi cho thân nhân ở trong nước - khoảng năm đến bảy ký gì đó? Tôi không nhớ rõ cho lắm. Quá số ký ấn định sẽ bị phạt nặng hoặc bị nhà nước tịch thu. Một lần tôi thấy anh cán bộ Bưu Điện có vẻ vui vui! Tôi bạo miệng nói: Dạ thưa anh cán bộ! Ở trong cải tạo, tôi được nghe cán bộ chính trị trại nói: " Tụi đế quốc Mỹ tàn ác, xâm lăng, đi chiếm đất khắp thế giới trong đó có ViệtNam chúng ta... Nhưng đồ dùng của nó tốt lắm".Như vậy, thì tại sao nhà nước hạn chế nhận quà?Anh cán bộ bưu điện vui vẻ nói:  -"Chính vì nó... quátốt ! mới hạn chế! Nhà nước ta là nhà nước - Đỉnh Cao Trí Tuệ của nhân loại, đã thấy được điều đó.Nếu không hạn chế, dân chúng sẽ ỷ lại tiền quà của bọn đế quốc mà không chịu tiến nhanh, tiến mạnh lên Chủ nghĩa xã hội. Ở Liên xô, Trung Quốc, ĐôngÂu  kể cả miền Bắc nước ta họ đã lên... hết rồi! Còn miền Nam chúng ta đi trước lại về sau - thật buồn! Trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Nhân dân ta chỉ có: Dáo mác, tầm vông đã đâm cho bọn Mỹ rớt toàn bộ B - 52, Thần sấm, Con ma, Cánh xập cánh xòe...". Cán bộ nói chuyện vui quá! - "Đúng như thế đấy chứ! Bằng chứng là đế quốc Mỹ cuốn cờ chạy trối chết về nước, còn bọn ngụy bán nước như các anh được cách mạng khoan hồng không giết - cho đi học tập cải tạo. Các anh phải đời đời biết ơn...".

        Tôi thầm nghĩ - anh cán bộ bưu điện nầy rất là thuộc bài vở. Vậy mà tại sao ổng lại làm việc ở ngành phát thư nầy không biết?

        Tôi cùng gia đình đứa em gái thứ bảy nhận quà cùng một đợt. Tôi rủ người em rể xuống xã xin "giấy phép tạm vắng" ngày hôm trước, để sáng hôm sau đón xe đò đi thật sớm cho kịp giờ đứng xếp hàng ở bến xe Long Khánh chờ mua vé.

        Chúng tôi đem bán thuốc tây ở trên đường Hai Bà Trưng, gần nhà thờ Tân Định. Thuốc còn hạn sử dụng thì có giá. Thuốc hết hạn sử dụng "Nhà thuốc" vẫn mua, nhưng giá còn phân nửa. Trung bình mỗi lần bán ký thuốc cũng kiếm được từ tám trăm đến một nghìn hai trăm đồng là quá mức. Nói thật lòng, cũng nhờ món quà từ ông Cha Carat mà gia đình tôi thoát qua cơn khốn khổ một thời gian dài.

        Tôi ghé thăm ông anh. Anh em ôm nhau bồi hồi xúc động. Gia đình ông anh không còn ở trong xưởng như trước, nay đã mua nhà ở bên quận Tám.Tôi trở lại Sài Gòn sau hơn bảy năm xa vắng. Tôi như người từ cung trăng mới xuống... Cái gì cũng "lạ !" - lạ nhất là đường phố có nhiều xe đạp. Ông anh tôi đạp xe hằng ngày từ đường Hưng Phú quận Tám qua Cầu Tre Hương Lộ 14  để làm việc. Nhìn chỗ nào cũng thấy vựa cây, củi. Nhà ở cũng làm bằng gỗ, gác gỗ. Nấu nướng bằng củi. Đường phố nào cũng thấy "tiệm mộc" và sản phẩm mộc bày bán nhan nhản lấn ra cả ngoài đường.

        Bữa cơm tối gia đình được dọn ra. Nhìn vô mâm cơm đặt dưới nền xi măng. Tôi thấy có tô canh cá lóc. Hình như hiểu cái nhìn của tôi, chị dâu tôi buộc miệng nói: "Hôm nay anh chị đãi chú mà! Anh chị vẫn còn nhớ chú thích món canh chua cá lóc !" - Bảy năm rồi phải không chị? Tôi nói trong sự xúc động đến nghẹn lời! - Em cảm ơn anh chị đã không quên thằng em khốn khổ nầy. Anh tôi nói nhỏ gì đó vào tai đứa con gái út. Nó mới mười hai tuổi đầu.Con bé bỏ cái "bi đông" vô trong cái giỏ đi chợ, xăn xái xách giỏ đi đâu đó...? Chừng hai mươi phút trở về - đi thẳng ra sau bếp.

        Anh tôi nói: - Hồi chiều anh đã "đăng ký tạm trú, tạm vắng" cho chú rồi đó! Chú đừng có sợ!". Anh tôi vừa nói vừa đổ bi đông rượu vô cái ấm bằng đất có vòi và đậy nắp lại. Anh quay ra đóng cửa chính, kéo màn cửa sổ. Anh nói tiếp: - "Anh được ưu tiên làm lại xưởng cũ nhưng xưởng bây giờ là "Công Tư Hợp Doanh" do nhà nước quản lý. Lương, khi có khi không! Đôi khi họ trả lương bằng thực phẩm, hay sản phẩm của mình làm ra rồi tự đem đi bán lấy tiền.Lời ăn lỗ thì chịu. Không như ngày xưa đâu, khổ sở lắm! Vợ chồng anh chị biết chú ở trong tù rất cực "Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại" mà ! Nhưng những người ở ngoài "xã hội mới..." cũng không sướng hơn bao nhiêu đâu. Cũng "lao động là vinh quang"; cũng ăn mì lác, bo bo, cũng họp tổ dân phố, cũng bình bầu người tốt, việc tốt...". Ôi thôi đủ thứ chuyện trên đời. Ban đêm giấc ngủ cũng chẳng yên! Mấy ổng - Công an khu vực muốn xét "hộ khẩu" lúc nào thì xét. Gõ cửa ầm ầm cả xóm đều thức. Có điều trái ngược là - ai cũng gắng tập: "nói gian, nói dối" để luồn lách kiếm miếng cơm sống qua ngày. Tập nói riết đâm ra... chẳng biết mắc cỡ hay xấu hổ gì ráo, cứ "vô tư" nói, thậm chí với cha mẹ, vợ con, bạn bè cũng nói dối tuốt luốt!

        Anh lấy ra ba cái chén đất rót ra ba chén rượu.Anh bưng một chén đặt trên bàn thờ..., rượu màu nâu nhạt, khói nhan quyện lung linh đầm ấm.  Anh nói: - "Rượu Cây-Lý đó chú! Thứ rượu nầy ngày xưa chưa từng biết để uống. Bây giờ quý như vàng! Và uống cũng phải "trùm mền" mà uống chứ không dám uống công khai!". Hai anh em cụng chén! Tôi run run bưng chén rượu uống một hơi hết sạch! Bất chợt hai hàng nước mắt chảy dài... Đứa cháu gái đi mua rượu hồi nãy thấy vậy vội buông đũa nhào lại ôm tôi khóc rấm rức...Không biết đứa cháu gái khóc thương cho cuộc đời của chú nó, hay khóc vì sợ tôi uống thứ rượu "Cây Lý" không được? Hồi tôi đi "cải tạo" cô bé mới năm tuổi, đâu có biết gì! Đêm đó chị dâu tôi giăng mùng cho hai anh em tôi nằm ngủ dưới cái nền xi măng.

        Ngày hôm sau hai anh em tôi chở nhau trên chiếc xe đạp đến xưởng làm - cái xưởng mà ngày xưa mỗi lần đi công tác về sai Gòn, tôi thường ở lại chơi cùng anh chị và các cháu vài ba bữa. Tôi gặp lại anh Hòa tại xưởng. Anh sững sờ, lọng cọng rơi cái "cờ lê" trên tay xuống đất. Tôi nghĩ chắc anh không ngờ tôi còn sống từ trại tù "cải tạo" trở về. Trông anh có vẻ  phờ, vợ anh cũng chạy ra đon đả... Anh cho biết bốn đứa con anh, hai đứa lớn nghỉ học ở nhà trông em và phụ giúp việc nhà. Vợ chồng anh cũng mua được căn nhà nhỏ trong hẽm. Tôi không nhắc lại chuyện ngày "giải phóng" anh đi mần "cách mạng", nhưng anh thở dài nói: "Đất guộng nhà cửa mình ở dưới quê, không "mần..." cũng không được. Mấy năm dzô "tập đoàn, tập thể"! Dzồi cũng trắngtay " !

        Hôm sau anh xin nghỉ một ngày dẫn tôi đi xem phim ở trên đường "Châu văn Liêm", trước là đường Tổng Đốc Phương. Tôi thấy người ta xếp hàng rồng rắn để mua vé. Đứng đợi gần một giờ mới mua được! Tôi đâu còn tâm trí để xem phim Liên Xô, ở trong tù coi riết trên truyền hình cũng đã chán lắm rồi! Chẳng qua đi để cho anh vui lòng. Hình như anh cũng chẳng chú ý đến phim. Tự dưng anh nói: "Bây giờ mà VNCH quay trở lại thì mấy tay VC không biết trốn vào đâu? Rừng bây giờ phá sạch hết...". Giọng anh nói oang...oang...! Tôi sợ điếng người lấy tay đập vào đùi anh mà nói: Tui "cải tạo" mới về, đừng nói lung tung - ngán lắm! Anh cười nói: "Sợ gì mà sợ, ai cũng biết dzậy mà! Sự thật vẫn là sự thật mà !".

        Tôi hỏi anh về Sồi Chảy hiện giờ ở đâu? - Anh cho biết: "Hắn ngày xưa ghét ông Thiệu lắm. Không biết tại sao nữa? Cha mẹ hắn cũng khá, có tiệm buôn bán ở trên đường Lục Tỉnh. Hắn nghe ai xúi...? Chứ tôi không khi nào "móc nối" hắn. Tính hắn như ruột để ngoài da, ai mà dám bàn chuyện chính trị với hắn.Khi bộ đội miền Bắc chiếm Sài Gòn, hắn nhào ra lập công, tay đeo băng đỏ - đem tài lực ra đón Cách Mạng. Chừng hai tháng sau tôi nghe tin hắn nằm ở Bệnh Viện Quảng Đông. Mặt mày sưng húp, còn cái mỏ sưng chù vù, rụng mấy cái răng cửa ...?! Gặng hỏi năm lần, bảy lượt... Hắn chẳng chịu nói lý do tại sao ra nông nổi? Sau đó hắn vượt biên cùng với gia đình "Thành công tốt đẹp" ! Hiện nay hắn có vợ, có con và sống ở Canada. Thỉnh thoảng hắn có gởi về một trăm đô la cho anh em cũ trong xưởng "liên hoan" một bữa... Kể ra tính tình của hắn xốc nổi, bộc trực - nhưng cũng còn có chút tình cảm đối với anh em. Khối thằng hiện nay "tự dưng giàu sụ"... Ăn trên ngồi trước mà có thèm nghĩ đến ai đâu...!".

        Anh Hòa có còn nhớ anh Sĩ - mần thợ hồ không? - Tôi hỏi? "Tôi nhớ chứ! Anh ấy là người có học; bụng đầy chữ nhưng không may, không phùng thời mới đi mần thợ hồ. Chứ hồi đó mà "may mắn, phùng thời" chắc bây giờ cũng đi "cải tạo"! (cười) !Anh ấy về Hồng Ngự mần ruộng, nghe đâu cũng tạm đủ sống, đứa con trai đầu học rất giỏi.

        Năm 1973, tôi được đại diện đơn vị tỉnh đi về Thủ Đô Sai Gòn dự đợt "Chiến Sĩ Xuất Sắc". Mấy thằng bạn nói: Tao nghe trong Dinh Độc Lập có tấm thảm dày bốn phân trải trên thềm lối vào Dinh...Mầy bỏ trong túi một cây ghim hồ sơ - khi vào đó mầy ghim xuống thử có đúng là dày như vậy không nha? Lúc ngồi trước thềm Dinh Độc Lập để chờ Tổng Thống đến, tôi lén rút cây kim giấy ghim trong túi áo (Cây ghim dài 2,5 phân) ấn xuống tấm thảm. Cây kim không đủ dài, tôi rút cây kim giấu vô túi. Đến khi gặp Tổng Thống, nghe Tổng Thống nói chuyện và sau đó là tiệc thân mật - nhận quà! Tôi nhận được một cây viết máy có khắc câu : "Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu Thân Tặng" cùng một số tặng phẩm khác khi đi thăm xí nghiệp dệt Vinatexco; Bưu Điện Sai Gòn, một vài Restaurant trên đường Đồng Khánh và các nơi khác...

        Cây viết có chữ đề tặng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tôi tặng lại cho anh Sĩ. Người trí thức đi mần thợ hồ nuôi con. Anh mừng và hãnh diện... Sau ngày "giải phóng" anh vẫn giữ và mang về quê. Sau nầy tôi có gặp đứa con đầu của anh ấy trong một bữa giỗ. Hiện nay cháu nó đang hành nghề Bác Sĩ. Nó nói: "Chú ơi, cây viết đó con giấu kỹ lắm! Nhưng qua mấy lần dời nhà nó... "" rồi! Nhưng con không bao giờ quên hình dáng cây viết ngày xưa chú đã tặng cho Ba con". Tôi nói: Vật có thể hư, nhưng hình ảnh và kỷ niệm in vào trong tâm lòng không... bị hư mới thật là đáng quý gấp vạn lần đó cháu! Chú cảm ơn cháu còn nhớ cây viết ấy!

        Tôi muốn tự mình đi vòng vòng thăm lại những nơi mà ngày xưa đã từng đi qua... Anh tôi chạy mượn ở đâu đó cho tôi một chiếc xe đạp đầm. Tôi đạp xe ra bến đò La-Kay, bến phía bên quận Tám là vựa bán cây bạch đàn, tầm vông, lá dừa nước chằm lợp nhà... Qua đò ngang sang bên quận Năm, đầu đường Nguyễn Tri Phương là vựa bán cây, củi các loại rất lớn. Lòng con kênh Tàu Hủ cạn đáy dòng nước đen ngòm. Tôi chạy một vòng qua Đại Thế Giới, Hào Huê, quay trở lại Đồng Khánh - Trần Hưng Đạo. Tôi chạy đến Ga Hàng Không Việt Namcũ nơi đầu đường Phạm Ngữ Lão, gần bùng binh chợ Bến Thành. Ngày trước từ Kontum tôi công tác về Sai Gòn, xuống phi trường Tân Sơn Nhất là có xe của hãng Hàng Không Việt Nam đưa về đây, và mua vé cũng tại đây. Mỗi lần về Sai Gòn ông anh tôi chạyxe Suzuki ra đón, trên đường về hai anh em tôi hay ghé đường Lục Tỉnh ăn lẩu cá. Hay chạy tuốt qua bên chợ cá Trần Quốc Toản, trên đường Trần Quốc Toản ăn cháo trắng với hột vịt muối.

        Tôi bồi hồi nhớ lại cô bạn gái "Tìm bạn Bốn Phương" ngày nào ngơ ngác trước ga Hàng Không Việt Nam để tìm "ký hiệu" nhận ra nhau. Ngày xưa, tôi công tác tại làng Thương có cái tên dài thòng - Yanglokơram, nằm giữa cầu Dakmot và Ben Hét.Thằng bạn đưa cho tôi tờ báo có mục "Tìm bạn..." và nói: - "Có cô nầy làm ở Phòng Thư Lưu Trữ Bưu Điện Sai Gòn. Mầy viết thư làm quen với cô ấy đi.Cô ấy nói - sẽ trả lời dù thư đến muộn". Sau nầy có dịp vô sai Gòn sẽ có người "hướng dẫn..."!

        Thật ra, thời ấy đi Sai Gòn là chuyện trong mơ, mặc dầu tôi có người dì ruột và ông anh ở đó. Viếtthư là viết để tìm chút ấm áp nơi "Em gái hậu phương, còn anh tiền tuyến". Nhưng chuyện đời cái gì cũng có thể xãy ra. Năm 1971, tôi bị thương trong lúc di chuyển ở bên bờ sông Pơko. Được chuyển về tỉnh điều trị... Sau khi bình phục tôi được bố trí ở lại làm việc tại tỉnh luôn!

        Chúng tôi hẹn gặp nhau trong chuyến công tác đầu tiên! Cô ấy đón tôi tại Ga Hàng Không Việt Nam Sài Gòn. Chúng tôi gởi cho nhau một vài tấm ảnh mới nhất để dễ nhận diện. Chúng tôi nhận ra nhau dễ dàng. Sau đó, cô ấy đề nghị vô rạp Eden xem phim tình cảm. Lúc nầy rạp Eden đang chiếu phim Hải Âu Phi Xứ dựa theo tiểu thuyết "Hải Âu Phi Xứ" của nữ sĩ Quỳnh Giao. Đặng Quang Vinh và Chân Trân thủ vai chính. Hai diễn viên đẹp, trẻ trung nầy diễn rất là... tình tứ! Hai chúng tôi ngồi trong rạp cả ngày.Ngày xưa nếu không có bận việc gì, chỉ cần mua một vé vô cửa, một ổ bánh mì là vô rạp hát coi phim suốt ngày. Tối đó chúng tôi đi ăn tối và hẹn hôm sau gặp lại. Tôi tặng cho cô ấy một bài thơ và cái "Nhà Rông" nhỏ. Cô ấy tặng tôi cuốn sách "Khung Trời Nhỏ Hẹp" của Maugham.

        Tôi nhìn vô rạp Eden giờ đây hoang vắng, còn ga Hàng Không Việt Nam cỏ mọc xanh um. Hình ảnh cô bạn gái hiện ra trong tâm tưởng. Nhìn lên những ngôi nhà lầu trên các đường phố quần áo phơi giăng ngổn ngang. Từ ngày "giải phóng" vô những thứ xa xỉ phẩm như: Phim ảnh, Bia, thuốc lá ngoại, bi da, nhảy đầm, vũ cầu, ping pông, kem đánh răng Hynos, lena kem trắng chỉ hồng, xà bông Cô Ba 72% dầu, cà vạt, áo vét, áo dài, mỹ phẩm, nước hoa... "trốn" đi đâu mất biệt? Kể cả xe nhà binh GMC, xe Deep cũng không thấy bóng dáng?! Còn sách vở, nhạc vàng và tiếng Anh là "văn hóa đồi trụy, phản động" - Cấm tiệt ! Tôi đi trở lại nhiều chỗ để tìm lại dư hương ngày nào. Nhưng tất cả đều đổi thay.Những người thân thương ấy giờ nầy họ đang ở đâu?Sống hay chết? Họ có biết tôi đang đi tìm lại hình ảnh và kỷ niệm trong sáng tuyệt vời ấy hay không?Ai là người có trách nhiệm trả lời tôi đây?!

        Tôi nhìn qua phía Dinh Độc Lập, bổng nhớ đến mấy người bạn khi xưa nhờ tôi ghim thử tấm thảm độ dày bao nhiêu? Ngày ấy tôi trả lời với họ là tấm thảm có độ dày cỡ bốn phân (?!). Hàng trăm người mang giày đi trên tấm thảm nhưng mặt tấm thảm vẫn như cũ - không để lại một dấu vết xơ xác nào. Mặt thảm trông óng ánh êm dịu và đẹp mắt! Nếu được nằm trên tấm thảm mà ngủ một giấc thì sướng biết bao! Không biết bây giờ tấm thảm ấy có còn không?

        Tôi đứng trước Nhà Thờ Đức Bà, tôi đọc kinh... Chậm chậm dắt xe đạp qua đường Nguyễn Hậu bên hông Bưu Điện, trước kia là dãy "Hộp Thư Lưu Trữ". Ngày xưa mỗi lần về Sai Gòn tôi thường đến đây và không cho cô ấy biết trước. Cô ấy nhìn tôi sững sờ "Anh không hẹn thì làm sao mà đi chơi được?". Mái tóc "Demigarcon với cái răng khểnh, tà áo dài trắng tinh! Hình ảnh Thiên-Thần ấy đã hút hồn tôi trong những tháng năm tràn đầy thơ mộng.

        Tôi bàng hoàng đứng nhìn giây lâu... Mất hết rồi! Mất hết rồi! Sài Gòn bây giờ không có còn là của ta nữa rồi! Đâu rồi những sinh viên bỏ học xuống đường hô hào chống Mỹ Diệm; Chống Mỹ, Thiệu, Kỳ, Khiêm? Đâu rồi những đoàn biểu tình chống chiến tranh - hát nhạc phản chiến - đốt cờ Mỹ - đốt xe Mỹ? Đâu rồi đám ký giả xuống đường đi ănmày? Đâu rồi những ông Cha, ông Sư thích làm chính trị? Đâu rồi những ông bà trí thức cấp tiến, và đam mê lý tưởng Cộng Sản? Bây giờ các người ở đâu vậy hử? Dân đói khổ tù đày, vượt biển... ! Mà sao chẳng thấy các ngài xuống đường đi biểu tình?Sao các ngài không làm báo Tư-Nhân bênh vực cho lẽ phải? Hiện nay các ngài ở nơi mô mà không thấy ai lên tiếng...?!

        Có lần tôi và cô bạn gái đứng trên cầu vượt trước chợ Bến Thành ngắm giòng người và xe trôi qua. Cô ấy quay lại hỏi tôi: - Con gà nó ăn thứ gì vậy anh? - Tôi nói: - Con gà nó ăn ngũ cốc!  Cô ấy lắc đầu -"Nó còn thích ăn thịt nữa đó anh !" Và cô ấy nói tiếp: "Ở ngoài vùng chiến sự anh đừng ăn thịt gà chạy rong nhé! Nó ăn xác chết đấy!". Tôi tưởng cô ấy ngây thơ nói chơi cho vui. Nhưng tôi hiểu ra: "Gà" cũng thích ăn thịt! Nó cũng như con người, cái gì cũng ăn. Con người hơn con gà là biết chọn thứ để ăn.
    
        Tôi dắt xe ra đường Hai bà Trưng chạy ra bến Bạch Đằng, bến phà Thủ Thiêm đông nghẹt người. Tiếng hát khàn khàn hòa theo tiếng đàn guitar đứt đoạn vọng lại trên bến phà: "Người đi- đi ngoài phố chừng bỡ ngỡ bơ vơ. Người đi đi ngoài phố... " Tôiđủ tỉnh táo để nhận ra họ là ai - Những anh chị em Thương-Bệnh-Binh sau cuộc chiến bị xô đẩy ra ngoài đường, mất nguồn tài trợ dù là ít ỏi. Với thân thể nầy họ làm gì được để sống? Một số có vợ con thì theo gia đình lên "kinh tế mới" ! Số còn lại đơn thân độc mã hay gia đình quá khốn khổ. Vì sự sinh tồn buộc họ phải lang thang đầu đường xó chợ, trên bến phà, trên bến xe... ngửa tay ăn mày chút tình thương của đồng bào... Đối với "xã hội mới" họ hoàn toàn bị bỏ rơi và khinh miệt ! Vật chất và tinh thần đều mất trắng! Cấp chỉ huy của họ đã "di tản trước và trong ngày 30.4.1975. Số còn lại thì đi tù "cải tạo". Bạn đồng đội lo cho thân mình còn chưa xong làm sao có thể cưu mang cho ai? Gặp nhau mũi lòng nhín nhịn quăng cho vài đồng chia xẻ tình cố cựu rồi quày quả quay đi nuốt cảm xúc vô trong lòng không dám để cho ai nhìn thấy. Sai Gòn "Hòn Ngọc Viễn Đông"! Phải chăng đã chết rồi? Cây phượng  trong sân trường ngậm ngùi nở hoa. Xác cánh phượng hồng còn nằm trơ  ra đó! Tà áo dài tha thướt theogót hài giờ đây chỉ còn nghe văng vẳng trong nắng chiều xa vắng. Những ai lượm xác phượng hồng giờ này đang ở nơi mô? Sài Gòn ngày nay quá đời thường, trần trụi mang dáng dấp nhà quê. Nhưng không còn đơn  mộc mạc..! Ngoài phố người đi vô tình như mây bay không để lai chút bóng râm cho những bước chân lãng tử... Họ hối hả từng bước chân đi về đâu? Không tiếng cười - có cười chăng là nhếch môi và cái nhún vai lắc đầu...! Tôi quẹo xequa đường Hàm Nghi chạy thẳng tuốt về nhà nằm thở!

        Anh chị tôi biết ngày mai là ngày tôi hết hạn "Tạm vắng, tạm trú". Gia đình lại làm bữa cơm chiatay. Nhìn mâm cơm tôi thấy có sườn heo ram, rau sống và một đĩa nhộng bóp gỏi với bắp chuối. Tôi định mở miệng nói -" chị mua chi đồ ngon tốn kém như vậy?". Thì chị dâu tôi hiểu ý và vội vàng xuatay: "Chú đừng nghĩ ngày nào nhà anh chị cũng có thịt heo để mà ăn đâu. Chờ nửa tháng, hôm nay mới lấy được cái tem phiếu đem ra "Cửa hàng Tươi Sống Phụ Nữ". Họ phân phối cho chị được một ký: Nửa thịt mỡ, nửa sườn! Chú có lộc ăn đó!".

        Anh tôi chui đầu dưới gầm giường moi ra một cái bao? Nghe tiếng lổn cổn... Tôi hỏi cái gì đó vậy anh? Anh đưa tay ra dấu bảo tôi ra ngoài đóng cửa chính và kéo tấm màn cửa sổ lại. Rồi anh nói: -"Mai chú về quê. Anh chị đãi chú chầu bia"! Tôi ngạc nhiên hỏi: -bia gì vậy?  - Anh nói: -"Bia lên men hiệu "Hòa Bình" chất liệu làm bằng trái cây. Nói trái cây cho nó "ngơm" vậy. Chứ thật ra là vỏ trái thơm trong nhà máy Hợp tác Xã thải ra. Họ tận dụng ủ lên men, lọc sạch đóng chai và cho ga vô... Vậy là thành... "bia" uống thoải mái! Uống nhiều cào ruột, cào  gandữ lắm. Nhưng phải uống để hồi tưởng một thời huy hoàng nay còn đâu? Hay... Hổ nhớ rừng ấy mà! Dân nhậu hiện nay kêu là: "Bia lên cơn"... Còn một vài loại bia: Con Cọp Gò Vấp, bia 36... nữaNgoài ra còn có rượu nhẹ có ga hiệu Chương Dương. Anh cũng có mua mỗi thứ vài chai đây - Chú uống thử cho biết với người ta".

        Tôi sực nhớ là mẹ có gởi cho anh chị và các cháu hai ký nếp và một ký đậu xanh. Tôi lật đật lôi cái giỏ lác ra. Anh chị ơi ! Mẹ nói gởi nếp, đậu lên cho anh chị nè - mà em quên mất!  Mẹ cho nếp, đậu dưới đáy giỏ đựng quần áo của em và may thêm một lớp đệm lác nữa phủ lên - Mẹ giấu kỹ lắm! Mẹ sợ đến trạm Trảng Bom bị họ lục xét lấy mất! Chị Dâu tôi và hai cháu gái lấy dao xúm lại rạch lớp đệm trút hết nếp và đậu xanh ra cái mâm bằng nhôm. Cô cháu gái út mừng rỡ nhao nhao lên: "Cháu cảm ơn bà nội... ! Cháu cảm ơn bà nội..."!

        Tôi cứ tưởng lòng anh tôi là sắt đá... Ai dè, anh đưa tay cào cào mấy hạt nếp lẫn lộn với đậu xanh trên cái mâm. Nước mắt anh chảy ròng ròng...! Chị Dâu cũng vậy! Anh chụp lấy ly bia "lên cơn" uống một ngụm cho trôi nỗi nghẹn ngào vào lòng ! "Thời... Ngăn-Sông-Cấm-Chợ! Thiệt là... khổ..."! Hình như anh nói cho hai đứa con gái của anh nghe thì phải...?


Trang Y H
Viết ở Sai Gòn 1985

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

LỊCH SỬ BÀI HÁT SILENT NIGHT


BÀI HÁT SILENT NIGHT
        Giữa các trận đánh ác liệt, người ta thấy cảnh ngưng chiến trong mấy ngày lễ Giáng sinh, binh sĩ giữa hai miền thù nghịch nhau cùng buông súng, tụ họp nhau lại để chúc mừng nhau, dự lễ, đọc Thánh kinh, chia xẻ quà cáp, và cùng hát bài "Silent Night! Holy Night". Một bài hát bất hủ bởi sự đơn giản, mộc mạc, sâu lắng và tuyệt diệu này, bài ca này đã ra đời trong 1 ngôi làng nhỏ bé quê mùa ở Nước Ao.
          Mùa đông Năm 1818 Cha Josep Mohr, 1 linh mục tại nhà thờ thánh Nicolas ở miền Oberndorf nước Ao đang tận lực sửa soạn lễ Giáng sinh, một nghi lễ đã được hoạch định kỹ càng trước cả tháng. Tất cả đều xong xuôi, nhưng lúc cha đang dọn dẹp thánh đường mới khám phá ra một trở ngại tưởng không thể khắc phục được: chiếc đàn phong cầm nhà thờ bị hư, lui cui với cây đàn từ bàn đạp đến bàn phím mong tìm ra chỗ hư hỏng, bất chấp mọi khó nhọc chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác gì cái im ắng của một đêm đông giá lạnh. Cha Mohr sực nhớ lại là mình đã cảm hứng sáng tác một bài thơ, đó là bài "Still Nacht! Heilige Nacht". Chỉ còn vài giờ nữa là thánh lễ đêm đã bắt đầu, vị linh mục băng qua những đường phố đầy tuyết phủ, đến với một người bạn là giáo viên dạy nhạc Franz Gruber. Sau khi nghe nỗi khó khăn trước mặt là chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài thơ ra và đề nghị ông Gruber  phổ nhạc. Đọc kỹ bài thơ, ông gật đầu, qua ánh mắt nụ cười chứng tỏ ông chấp nhận thử thách đó, "không còn nhiều thời giờ nữa đâu" cha nói thêm và quay trở lại nhà thờ với công việc của mình. Ông Gruber ngồi lại một mình với bao ý tưởng trước chiếc đồng hồ kêu tíc tắc và lời cầu xin tìm ra hứng nhạc.
Mấy tiếng đồng hồ sau hai người gặp nhau tại nhà thờ, dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc rồi vội vã chuyển cho ca đoàn đang chờ tập dượt. Công trình tưởng chừng phải mất cả tuần nay chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là xong. Trong thánh lễ nửa đêm năm đó mọi người được giới thiệu bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng "Still Nacht! Heilige Nacht" đã được ca hát trên khắp thế giới gần hai trăm năm sau đó.
        Bản nhạc này đến nay vẫn còn dịu dàng và tươi mát như lần đầu được hát trong thánh đường nhỏ bé nơi nước Ao xa xôi, như một lời cầu xin được đáp ứng, khởi đầu chỉ vài câu ngắn ngủi mô tả Đấng Cứu Thế trong máng cỏ nghèo nàn, nhưng toát lên sự an bình, thanh thản của tình người. Bài thơ ngắn ngủi ấy như sau:

Still Nacht! Heilige Nacht!
Alles schlft; einsam wacht
Nur das traute heilige Paar.
Holder Knab im lockigten Haar,
Schlafe in himmlischer Ruh!
Schlafe in himmlischer Ruh!
Tạm dịch:
Đêm yên lặng! Đêm thánh!
Tất cả đã ngủ yên;
Chỉ còn đôi bạn thánh thức cô đơn
Chú bé tóc cuốn lọn nằm yên
Hãy ngủ đi trong thinh lặng đất trời
Hãy ngủ đi trong thinh lặng thiên đàng

Silent night! Holy night!
All is calm, all is bright.
Round yon Virgin,Mother and Child.
Holy Infantso tender and mild.
Sleep in heavenly peace
Sleep in heavenly peace.

( SƯU TẦM INTERNET)

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

SỰ THẬT VỀ NGƯỜI VIỆT



Sự thật về người Việt

Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới

Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.

Thấy người mà nghĩ đến ta, tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Đã có hằng trăm cuốn sách khenngợi người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế? Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.

Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 4.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?

Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết:


“Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đitrận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.”

Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68, cũng nhận xét rằng:

“Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…”.

Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc đã từng ví người Hoa như ba con vật:

“Tàn bạo như Sư tử, gian xảo như Hồ ly, nhút nhát như Thỏ đế.”…Không vì những ý kiến thẳng thẳn đó mà dư luận người Hoa cho rằng ông bôi bác hay phản bội dân tộc.

Tuy mỗi người nhìn và đặt vấn đề một cách khác nhau, nhưng họ có chung niềm trăn trở và chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Đôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữađể tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳngthắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.

Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giàu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức,nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém.
Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc.

Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại suy nghĩ thiếu khoa học nên dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.
Cứ nói người dân mình thích đọc sách và ham học lắm, nhưng tôi có cảm tưởng không phải như thế. Thực ra, dân mình mê khoa bảng, kiếm chút bằng để kiếm ăn. Sách in ra đa số nhận rất ít phản ứng… Việc đọc sách chưa được xã hội hóa, hàng tháng không có thông tin về sách mới ra, không giới thiệu, không phản hồi, không thống kê, giới viết và đọc không hội họp….

Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Để tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!! Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí.

Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng. Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu tinh thần khoa học, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo…

Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được. Xin hiểu cho là cà một dân tộc thì có người nay người kia, nên nói như thế không có nghĩa mọi người như vậy và một người đồng thời có tất cả những tính xấu ấy cùng lúc.
Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng đồng của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?

Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua “định mệnh” không hay này.
Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém,không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Đại học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.

Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn việc lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từmọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Đã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được.
Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?

Tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau.

Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiệm chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.
Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Đồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.
Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn “Tự Thán” đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi.

Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được. Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn “Tự Phán”, cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm giày xéo… 

Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau. Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Đà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858,Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Đà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Đặc biệt Việt Nam hầu như chỉdựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện.

Thật vậy, khi thấy Pháp mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế chiến Thứ II, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm chiến tranh. Điều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.

Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theokịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?

Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Đức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế chiến Thứ II, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thếchiến Thứ II, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.

Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Đặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân…

Vài năm trước, tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế chiến Thứ II vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn.

Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép. Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn “rất nghèo tài nguyên”, mà nay người Nhật xây dựng thành “giàu có”, còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn “rừng vàng biển bạc” mà lại hóa ra “nghèo nàn”? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời Trung cổ.

Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển. Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Đức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế chiến Thứ II, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.

Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, năm 2007, người Việt dù có 3 triệu ở hải ngoại hay 85 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao.

Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chịu khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng kinh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn.

Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?

Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như “sắc, huyền”, uốn éo như “hỏi, ngã”, rung động như “r”… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc lý cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏinhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.

Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời. Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng “hàng ngoại” đến như vậy?

Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. “Sản xuất” nếu có, “hàng nội” nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay người Hoa được. Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bày cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được.

Người Mỹ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng:

- “Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác”. Người Nhật thì chủ trương:

- “Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách”.
Sự phồn vinh rất “giả tạo” hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODAkhoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP)khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa.

Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể “đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo”. Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.

Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại?

Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu? Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.

Psonkhanh, 
Trích từ blog Tin Lề Trái

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

THẬT KỲ LẠ

THẬT KỲ LẠ

  1. Thật kỳ lạ: tờ giấy bạc một trăm ngàn sao có vẻ lớn khi chúng ta dâng tặng người nghèo khó hay một nơi từ thiện, mà sao lại nhỏ khi chúng ta tiêu xài hay ăn nhậu?
  2. Thật kỳ lạ: sao một giờ hoặc hai giờ ở nhà thờ sao có vẻ dài lê thê, mà sao lại ngắn quá khiu chúng ta ngồi nhậu và "bù khú" với nhau?
  3. Thật kỳ lạ: Mình không thể tìm ra một lời lẻ để cầu nguyện, mà không biết chuyện ở đâu mà ngồi " tám" với bạn bè cả buổi?
  4. Thật kỳ lạ: Đọc một chương kinh thánh sao mà thấy khó khăn quá, mà sao lại thích đọc những chuyện , những tin "giật gân" lại dể đến thế?
  5. Thật kỳ lạ: sao ai cũng muốn ngồi hàng đầu khi xem ca nhạc hay xem phim, mà lại làm mọi cách để ngồi hàng dưới trong nhà thờ?
  6. Thật kỳ lạ: lúc nào chúng ta cũng than van không có thì giờ, khi có việc gì ở nhà thờ, mà thời gian để lo những chuyện ở ngoài đời lúc nào chúng ta cũng có đủ thời gian?
  7. Thật kỳ lạ: Mình tin mọi thứ báo chí hay tin tức trên internet đưa ra, mà lại thắc mắc mãi những điều kinh thánh đưa ra?
  8. Thật kỳ lạ: khi ai ai cũng muốn có một chổ trên thiên đàng, mà lại không muốn tin, không muốn là những điều tốt lành để được lên trên ấy?
( Theo khúc cảm tạ , có sửa đổi đôi chút cho hợp hoàn cảnh)

CỘI NGUỒN HẠNH PHÚC

Cội Nguồn Hạnh Phúc

Tác giả: Dalai Lama


Quan niệm thông thường của con người về tình thương và từ bi là sự liên hệ tuỳ thuộc vào người này là vợ tôi, người kia là chồng tôi, con tôi, và bà con bạn bè thân thích của tôi. Với thiên kiến như vậy, chúng ta chỉ thích yêu thương và bảo vệ những gì thuộc của riêng mình mà bỏ quên trách nhiệm và bổn phận đối với tha nhân.

Trong khi bản chất của vạn vật là luôn đổi thay nên tình cảm vì thế cũng dễ dàng biến đổi. Chẳng hạn một người bạn thân lúc nào cũng làm vui lòng ta thì mọi việc đều tốt đẹp. Nhưng một ngày nào đó có điều gì nghịch ý trái lòng xảy ra, thì người mà ta xem như là bạn thân ngày hôm qua lại có thể trở thành kẻ thù đáng ghét nhất. Trong đời sống vợ chồng cũng vậy, nếu chúng ta yêu thích một người vì sự hấp dẫn của bề ngoài giả tạo, thì theo thời gian, tình cảm mà ta dành cho người đó cũng sẽ phai tàn. Mặc dù cũng vẫn là con người đó nhưng khi họ mất đi sự quyến thì hoàn cảnh cũng sẽ đổi thay.

Hơn nữa, con người chúng ta có thói quen khi thấy người nghèo khổ, tàn tật thì đem lòng thương xót. Nhưng khi thấy người giàu có hoặc danh thơm tiếng tốt hơn mình thì đem lòng ganh tị và cạnh tranh cùng họ.

Những cảm xúc thiên lệch này làm cho chúng ta không còn khả năng nhìn thấy sự bình đẳng giống nhau giữa người ta và người. điều này trái với lòng từ bi chân thật vì nếu là từ bi thì dù cho bề ngoài của người đó có thay đổi ra sao, tình cảm của ta dành cho người đó vẫn không bị biến đổi. Cũng như vậy, các cảm xúc tiêu cực khiến chúng ta quên rằng tất cả mọi người dù giàu hay nghèo, thân hoặc không thân, họ cũng có cùng mong ứơc là được hạnh phúc và sợ đau khổ như chúng ta. Vì thế, chúng ta cần phải thanh lọc chính mình để có thể thoát khỏi ảnh hưởng của cảm xúc thiên lệch này.

Bản chất của các phảm chất như tình thương, nhẫn nại, khoan dung và tha thứ là cội nguồn dẫn dắt chúng ta đi đến hạnh phúc. Như vậy, khi ta càng từ bi với kẻ khác thì chính ta là người thừa hưởng được nhiều hạnh phúc hơn.

Nhiều người cho rằng khi quan tâm, chia sẻ nỗi khổ đau của người khác, coi chừng ta sẽ mang lại sầu khổ cho chính mình. Nếu chỉ nhìn ở một góc cạnh nào đó, điều đó có thể đúng. Nhưng có điều khác biệt giữa nỗi khổ của riêng ta và kinh nghiệm khổ đau khi chia sẻ cùng tha nhân vì với lòng từ bi tự nó sẽ cho ta một thứ kinh nghiệm tràn đầy tình thương ấm áp, nhờ vậy mà nỗi khổ sẽ giảm đi rất nhiều. Chắc chắn sẽ có nhiều trở ngại trên con đường phục vụ mang lại lợi ích và an vui cho tha nhân. Vì vậy, chính bản thân tôi cũng phải tranh đấu để có đủ khả năng đặt hạnh phúc của kẻ khác ngang hàng với hạnh phúc của chính mình. Đôi khi trải qua kinh nghiệm về sự đau khổ cũng là điều hữu ích. Khi chúng ta gặp đau khổ, nó nhắc nhở cho chúng ta về sức chịu đựng của người khác và khơi dậy trong lòng chúng ta sự cảm thông cùng tha nhân. Như vậy khổ đau cũng là một kinh nghiệm cần thiết trong đời sống để con người có thể học hỏi từ đó về bài học của tình thương và lòng từ bi. Chẳng hạn khi gặp phải nghịch cảnh có thể đưa đẩy chúng ta đi tới hận thù và phiền não, chúng ta có thể chuyển hoá chúng thành bao dung và tha thứ để phát triển tâm linh của chính mình.

Nếu là một Phật tử trên con đường tu tập, chúng ta phải luôn tự nhắc nhở mình về bổn phận phục vụ cho toàn thể chúng sanh chứ không phải chỉ dành riêng cho người thân của mình, trong đó có sự phục vụ dành cho những con người kém may mắn và khổ đau nhất. Đồng thời chúng ta cũng ý thức được trách nhiệm không tạo nên sự bất hòa và chia rẽ giữa người này và người khác cũng như sự bát hòa giữa các cộng đồng là thành viên của gia đình nhân loại.

Một điểm quan trọng nữa để bảo tồn cho sự cộng sinh hòa bình là thái độ tri túc và biết dừng lại kịp thời. Vì bản chất của sự tham lam là nguồn cội phát sinh đố kỵ và tranh chấp. Không khí của đố kỵ và tranh chấp làm nhiễm ô tâm thức của chúng ta và mang đến đau khổ cho mọi người sống trong cộng đồng. Bản chất của tham lam là muốn chiếm hữu và không bao giờ cảm thấy hài lòng, thỏa mãn. Chẳng hạn như một người nắm tất cả quyền lực và guồng máy kinh tế của một quốc gia trong tay, nhưng vì lòng tham lại tìm cách xâm chiếm nền kinh tế và thậm chí đất nước của người khác. Do đó, cải thiện tâm thức và tôn trọng luân lý cũng là trách nhiệm của chúng ta.

Đề cập đến trách nhiệm của chúng ta ở mức độ toàn cầu, tôi muốn nói đến sự chân thật và thiếu chân thật trong mối tương quan giữa con người với nhau. Đôi khi bề ngoài của chúng ta có vẻ như rất hòa hợp với nhau, song sự thật thì không. Chúng ta nên biết rằng khi chúng ta giả dạng những thứ này trong khi nội tâm chúng ta lại là thứ khác. Sự thiếu chân thật này là nguyên nhân khiến cho mọi người nghi ngờ, sợ hãi và tránh né. Ngược lại nếu chúng ta sống chân thật, chúng ta sẽ giảm thiểu được nghi ngờ và hiểu lầm cho cá nhân hoặc cộng đồng. Như vậy, chúng ta cũng đóng góp được phần nào khả năng của mình trong việc tạo dựng hạnh phúc cho mình và cho người.

Mặc dù rất khó khăn trong việc mang lại hòa bình và hoà hợp chân thật như chúng ta mong ước, song với nền tảng của tình thương và tâm từ bi cộng với trách nhiệm của chúng đối với tất cả mọi người, tôi tin là chúng ta có nhiều hy vọng để xây dựng một nền hòa bình và an vui cho nhân loại trong tương lai.

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

LỂ TẠ ƠN

Cám ơn cuộc đời

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2012-11-18
Hàng năm cứ vào những ngày cuối tháng 11, người dân Hoa Kỳ lại cùng nhau tổ chức ngày lễ Tạ Ơn, để tưởng nhớ những người da đỏ đã giúp đỡ tổ tiên người Mỹ những ngày đầu đặt chân trên mảnh đất tự do.
Courtesy holidayspot
Happy Thanksgiving.
Nhưng giờ đây, vào ngày lễ Thanksgiving người Mỹ không chỉ tưởng nhớ những tiền nhân, mà đây còn là cơ hội để các gia đình xum họp, và đoàn tụ.
Chương trình âm nhạc tuần này, nhân ngày lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ, gửi tới quý vị những bài hát nói về ơn nghĩa cuộc đời.

Bậc sinh thành

Người Việt mình thường có câu “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, để thể hiện sự biết ơn với những ai mang đến cho chúng ta có được hôm nay.
Nếu được cám ơn thì điều đầu tiên và trước hết đó là ơn nghĩa sinh thành của bậc thân mẫu, người luôn chở che cưu mang và là điểm tựa chốn nương thân trong những khi ta gặp khó khăn hoạn nạn.
Nói sao cho đủ ơn nghĩa biển trời của cha mẹ, đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn hướng về chúng con.

Thầy Cô

Tặng Hoa là hình thức thể hiện sự cám ơn phổ biến nhất tại Việt Nam, (hình minh họa). RFA photo.
Trong mỗi nấc thang cuộc đời, nếu được lời tri ân đến những người cha, người mẹ thứ hai thì hẳn đó sẽ là những thầy cô giáo, những người lái đò vẫn tận tâm hàng năm, hàng tháng chở chữ, vun đắp trí thức cho bao thế hệ học trò.
Mười hai năm học đầu đời, mười hai năm tuổi học trò gắn với sự yêu thương, bảo ban của thầy cô, trường lớp. Thầy cô không chỉ dậy ta kiến thức sách vở, mà thầy cô còn mở ra cả một thế giới với cách đối nhân xử thế cuộc đời.
Với người Việt Nam mình, truyền thống “tôn sư trọng đạo” từ ngàn đời vẫn luôn là những nghĩa cử được bao thế hệ học trò tiếp nối.
Và chỉ ít hôm nữa là ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, qua làn sóng của chương trình âm nhạc này, chúng tôi cũng gửi lời cám ơn đến tất cả những người thầy cô đã và đang đứng trên bục giảng một ngày 20/11 tràn đầy tình thầy trò ấm áp.

Vợ chồng

Nói tiếng cám ơn, hay nói cho đúng hơn là lời tạ ơn với cha mẹ, thầy cô thì không biết bao cho đủ, nhưng trong cuộc sống thường nhật, mỗi người chúng ta còn có vợ có chồng, đó là những thành viên, những người gần gũi nhất trong cuộc đời của chúng ta.
Có những phút giây giận hờn, yêu ghét, có những đổ vỡ, chia xa. Nhưng tất cả những trạng thái cảm xúc đó mang lại cho người ta một thứ tình cảm, một thứ hạnh phúc không diễn đạt bằng lời.
Có thể vì thế mà lời cám ơn với một nửa thế giới của ta, những người chia sẻ từng bữa ăn, giấc ngủ là điều không thể thiếu. Phải chăng tình yêu thương, sự nghĩa tình là những điều thiêng liêng, phải chăng đó là những “niềm vui khi bên nhau với bao nhiêu buồn lo tan đi mau, những giây phút buồn đau sẽ qua nhanh nghẹn ngào không nói nên lời.”

Cuộc đời

Buổi diễn hành của Macy nhân ngày Thanksgiving tại New York. AFP PHOTO.
Lời cám ơn, có lẽ chẳng bao giờ là đủ, vì mỗi con người chúng ta là những mắt xích nhỏ trong cả một chuỗi bánh xe cuộc đời, lời cảm ơn hay lòng biết ơn tạo nên sợi dây liên kết bền vững, kéo mọi người lại gần nhau.
Mỗi một cá nhân là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, để có được sự thành công trên mỗi bước đường công danh, người ta cần sự giúp đỡ của đồng nghiệp, của bè bạn, những người tiếp thêm sức mạnh để chúng ta vững chân đi tiếp.
Lời cám ơn, có thể chỉ là với những điều vô cùng giản dị, những điều tưởng chừng như vẫn ở đó mỗi khi ta cần.
Đôi khi người ta cũng cần biết ơn một bờ vai chia sẻ, một lời an ủi động viên. Và đó có thể cũng chỉ là ánh sáng ban mai, một cơn mưa mát lành hay một làn gió nhẹ, là những gì đã hiện hữu quanh ta tự khi nào:
Cám Ơn Đời Mỗi Sớm Mai Thức Dậy
Ta Có Thêm Ngày Mới Để Yêu Thương

Đấng Thiêng Liêng

Và trong mùa Tạ Ơn này, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ, đối với tình nghĩa vợ chồng và trên hết là Thượng Đế. Con người từ khi sinh ra đã biết cám ơn Thượng Đế ban cho họ sự sống, hơi thở, đã đưa con người đến bến bờ bình yên hạnh phúc.
Và tại Hoa Kỳ, một đất nước đa chủng tộc, đa tôn giáo, ai cũng có một đấng Thiêng Liêng để tạ ơn, ai cũng có một người riêng để cảm tạ. Và chương trình âm nhạc cuối tuần cũng xin gửi lời chúc đến tất cả các quý vị một mùa Lễ Tạ Ơn an lành, mong rằng chúng ta hãy luôn nghĩ đến những ơn phúc người khác mang lại cho mình, “có nhận và có trả”, hãy san sẻ tình yêu, tiếng cười để biến cuộc đời luôn tràn ngập hạnh phúc yêu thương.
NGUỒN : RFA

Bài đăng phổ biến