Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

HẠNH PHÚC LÀ GÌ?



http://healthnbeauty.com/wp-content/uploads/2012/01/timetobehappy.jpg
 HẠNH PHÚC
+ Chó con hỏi chó mẹ, mẹ ơi hạnh phúc là gì? 
 
Chó mẹ bảo hạnh phúc là cái đuôi con đấy!
Và thế là chó con quay lại tóm cái đuôi của mình, nhưng không tài nào tóm được, chú ngồi xuống oà khóc, và lại hỏi mẹ:
- Tại sao con không thể nào bắt được hạnh phúc hả mẹ?
Chó mẹ mỉm cười và nói rằng:
"Con trai, tại sao con không tiến về phía trước và hạnh phúc sẽ theo sau con". Vậy chúng ta tại sao cứ phải đi tìm cho mình
hạnh phúc nhỉ khi mà hạnh phúc luôn đi theo mình, hãy sống, hãy cảm nhận hạnh phúc mà cha mẹ đã cho ta. Hạnh phúc vì
được sống bên những người bạn mà mình yêu ...
 
+ Ngày xưa, có lần “tập đoàn” yêu tinh họp nhau lại để lên kế hoạch làm hại con người
Một yêu tinh nói: “Chúng ta nên giấu một thứ gì đó quý giá của con người đi, nhưng giấu cái gì bây giờ?”.
 
Sau khi suy nghĩ, một yêu tinh đáp:
“Biết rồi, hãy lấy đi hạnh phúc của họ, họ sẽ ngày đem phải khổ sở u uất. Nhưng vấn đề là giấu nó ở đâu bây giờ?
Phải giấu ở nơi nào mà họ không tìm được ấy!”.
 
Một yêu tinh khác cho ý kiến:
“Thử quẳng nó lên đỉnh ngọn núi cao nhất của thế giới xem”.
Nhưng ý kiến đó bị phản đối ngay:
“Không được. Con người rất khoẻ mạnh, chuyện leo núi có nhằm nhò gì đâu”.
 
Một yêu tinh khác lại có ý tưởng:
“Vậy ta giấu nó xuống vực biển sâu nhất nhé?”.
Nhưng các yêu tinh lại đồng loạt phản đối:
“Không, con người rất tò mò. Họ sẽ tạo ra những chiếc tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả
mọi người cũng sẽ biết”.
 
Một yêu tinh nhỏ tuổi đứng lên:
“Hay để nó ở một hành tinh khác đi!”.
Tuy nhiên, một yêu tinh lớn tuổi đáp:
“Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh đấy thôi”.
 
Bầy yêu tinh lại im lặng suy nghĩ. Chợt một yêu tinh già lụ khụ đứng lên đưa ra ý kiến:
“Tôi biết ta nên giấu hạnh phúc ở đâu rồi! Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số mọi người đều luôn cố gắng
lùng sục hạnh phúc ở khắp nơi khắp chốn và bao giờ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Bản thân họ thì chẳng
bao giờ họ quan tâm. Giấu ở đó thì con người chẳng bao giờ tìm thấy đâu!”.
 
Tất cả yêu tinh đều nhất trí với giải pháp này và kể từ đó, rất nhiều người mải mê đi kiếm hạnh phúc mà không
biết nó đã được giấu ngay trong tâm hồn mình!
 
Hạnh phúc đơn giản là ngay chính trong tâm hồn của mỗi con người ...hạnh phúc chính là điều giản dị quanh ta
mà chẳng phải mất công tìm kiếm... Hãy trân trọng nó !
 
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 
Mời Bạn -Đọc và suy gẫm xem đúng không?
                                 Ba điều trong một đời người:

* Ba điều trong đời một khi đã đi qua không thể lấy lại được :
+ Thời gian
+ Lời nói
+ Cơ hội 
.
 
* Ba điều trong đời không được đánh mất :
+ Sự thanh thản
+ Hy vọng
+ Lòng trung thực .
 
* Ba thứ có giá trị nhất trong đời :
+ Tình yêu
+ Lòng tự tin
+ Bạn bè .
 
* Ba thứ trong đời không bao giờ bền vững được : 
+ Giấc mơ
+ Tài sản
+ Thành công .
 
* Ba điều làm nên giá trị một con người :
+ Siêng năng
+ Chân thành
+ Thành đạt .
 
* Ba điều trong đời làm hỏng một con người :
+ Rượu
+ Lòng tự cao
+ Sự giận dữ.
http://cdn3.fotosearch.com/bthumb/CSP/CSP343/k3439718.jpg
(Theo Hướng về Chúa) 

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

TIỀN BẠC


 Tiền

Người công nhân đồ mồ hôi để có được tiền,
Kẻ hoang phí thì đốt nó
Chủ ngân hàng đem nó cho vay
Đàn bà xài nó
Kẻ lưu manh làm giả nó
Nhân viên thuế vụ lấy nó
Người hấp hối lìa bỏ nóKẻ thừa kế tiếp thu nó
Người tiết kiệm để dành nó
Người keo kiệt thèm khát nó
Kẻ ăn trộm chộp lấy nó
Người giàu gia tăng nó
Người cờ bạc bị mất nó
Phần tôi thì dùng nó (Quote)

b/ Khả năng thật của tiền bạc
Tiền có thể mua được cái vỏ, nhưng không mua được cái nhân
Nó có thể mang đến cho bạn thức ăn, nhưng không mang đến khẩu vị
Nó giúp bạn có nhiều người quen, nhưng không giúp bạn có bạn bè
Nó giúp bạn có những đầy tớ, nhưng không giúp bạn có được lòng trung thành của họ.
Nó ban cho bạn những tháng ngày hưởng thụ, nhưng không cho bạn bình an và hạnh phúc (Henrik Ibsen)

c/ Những thứ mà tiền không mua được
Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng để mất những thứ tiền không mua được còn tốt hơn.

Những thứ sau đây tiền không mua được:

Tiền không mua được lương tâm trong sạch.
Tiền không mua được niềm vui lành mạnh.
Tiền không mua được tình bạn chân thực.
Tiền không thể mua được tình yêu chung thủy
(SƯU TẦM)

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

NGƯỜI MỶ VÀ TIẾNG VIỆT



Người Mỹ nói về Tiếng Việt


Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!
Me hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Phạm Duy (Tình ca, 1953)


Sau đây là câu chuyện vui:

Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Ðông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Ðại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn TP HCM, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu. Johnson ăn mặc xuyền xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàng ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Ðối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, ... hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon "thần sầu quỉ khóc" !!!

Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc "đờ-mi gác- xông", sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.

Chúng tôi gặp nhau trên chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Huế. Tôi về thăm quê, còn Johnson thì sau mấy tháng nghiên cứu phong tục Tây nguyên xuống Nha Trang rồi tiếp đi dự Festival Huế. Ðường dài, tàu chạy dằn xóc, chung quanh ồn ào, lao nhao chẳng ai ngủ được. Johnson rủ tôi xuống toa ăn uống, kêu mỗi người một ly cà phê đen, một bình trà nóng rồi trao đổi đủ thứ chuyện trên đời. Tôi cũng khá thán phục sự hiểu biết và thành thạo văn hóa Việt Nam của Johnson khi nghe hắn thỉnh thoảng chêm vô câu chuyện mấy câu ca dao, thành ngữ tiếng Việt. Thật thú vị khi nói chuyện với một người Mỹ bằng tiếng Việt về đề tài ngôn ngữ Việt Nam (dễ chịu hơn nhiều khi khi nó chuyện với một người Mỹ bằng... tiếng Anh). Vậy mà Johnson vẫn lắc đầu than:

- Tiếng Việt của mấy ông rắc rối quá! Tôi học đã lâu mà vẫn còn lúng túng, nhiều lúc viết sai, nói sai lung tung cả lên. Này nhé, từ xưng hô, ăn uống, giao tiếp... thật lắm từ khác nhau chẳng đơn giản như tiếng Mỹ của tớ, chỉ một từ you là để nói với tất cả người đối thoại, tiếng Việt thì phân biệt ông, bà, anh, chị, em, con, cháu, ngài, mày, thầy, thằng, ... rành mạch. Tiếng Mỹ thì dùng một chữ black để chỉ tất cả những vật gì, con gì có màu đen trong khi đó tiếng Việt thì khác, ngựa đen thì gọi là ngựa ô, chó đen thì kêu là chó mực, mèo đen thì gọi là mèo mun, gà đen thì là gà quạ, bò đen là bò hóng, mực đen là mực tàu, tóc đen thì hóa thành tóc nhung hoặc tóc huyền. Ðã là màu đen rồi mà người Việt còn nhấn mạnh thêm mức độ đen như đen thủi, đen thui, rồi đen tuyền, đen thắm, tím đen, đen ngắt, đen bóng, đen sì, đen đủi, đen thẳm, đen óng, đen thùi lùi, đen kịt, đen dòn... Còn để chỉ màu ít đen hơn thì người Việt dung chữ đen hai lần: đen đen.

Tôi cười cười:

- Thì tiếng Mỹ của ông nhiều lúc cũng rắc rối kia mà. Này nhé, người Việt nói: "Hôm qua, tôi đi tiệm" thì người Mỹ lại nói "Yesterday, I went to the shop". Tiếng Anh, đi là go, nhưng đã đi (quá khứ) thì phải viết là went. Bản thân chữ hôm qua (yesterday) đã là quá khứ rồi thì ai cũng biết mà gì cần phải đổi go thành went chi cho rối mấy người học Anh văn? Nội chuyện học thuộc lòng 154 động từ bất qui tắt của mấy ông cũng đủ làm nhiều người trên thế giới phải thi rớt lên rớt xuống. Người Việt nói hai con chó mà chẳng cần thêm s hoặc es thành hai con chó "sờ" (two dogs) như tiếng Mỹ. Một đứa con nít thì nói là one child là được rồi, vậy mà thêm một đứa nữa thì bắt đầu rối, chẳng phải là two childs mà thànhtwo children. Một con ngỗng là one goose, hai con ngỗng thì thành two geese. Vậy mà viết một con cừu là one sheep nhưng hai con cừu thì cũng là two sheep, chẳng chịu đổi gì cả ?!.

Johnson vẫn không chịu thua:

- Văn phạm của xứ ông cũng rắc rối bỏ xừ! Xem nè, thắng và thua là hai chữ phản nghĩa chứ gì? Thua và bại là hai chữ đồng nghĩa, đúng hông? Vậy mà, hai câu nói: "Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán" đồng nghĩa với câu "Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán"? Không thể viết là Ngô Quyền đánh thua quân Nam Hán"!!! Phải không nào? Rồi còn, "áo ấm" tương đương với "áo lạnh", "nín thinh" giống như "làm thinh" trong khi ấm và lạnh phản nghĩa nhau, nín và làm cũng là những động từ đối nhau. Rồi ba hồi mấy ông dùng tiếng Hán như Quốc gia rồi đổi thành tiếng Nôm ra Nhà nướcTrực thăng (có thể không cần chữ máy bay phía trước) thành Máy bay Lên thẳng (phải có chữ máy bay phía trước), Thủy quân lục chiến thì đổi là Lính thủy đánh bộ, sao không gọi luôn là lính nước đánh đất??? Lễ động thổthì không thể sửa lại là Lễ động đất mặc dầu là thổ là đất?

Tôi tiếp tục "ăn miếng trả miếng":

- Tiếng Mỹ cũng đâu có tránh khỏi. See và look cũng đều là động từ để cùng chỉ hành động xem, nhìn, ngắm, dòm nhưngoversee (quan sát, trông nom) lại ngược nghĩa overlook (bỏ sót, không nhìn thấy). Wise man là người thông thái, uyên bác, vậy mà thay chữ man (đàn ông) thành woman (đàn bà) thì chữ wise woman thành bà phù thủy, bà đỡ bà lang, bà thầy bói, bà đồng bóng!!! Rồi chữ man và guy (anh chàng, gã) gần gần như nhau thì chữ wise guy thành một kẻ hợm hĩnh, khoác lác. Sao lại "park on driveways" (đậu xe trên đường nội bộ) nhưng "drive on parkways" (lái xe trên xa lộ)?

Johnson ôm bụng cười:

- Tên món ăn Việt Nam cũng lạ, miền Nam có bánh da lợn, tưởng làm bằng thịt lợn nhưng thực chất là bằng bột, có lẽ giống như các lớp da lợn, nhưng sao không gọi là bánh da heo theo từ miền Nam mà gọi theo chữ lợn miền Bắc?Bánh bò cũng chắng có miếng thịt bò nào. Bánh tiêu thì không rắc tiêu mà lại rắc mè. Gọi rau má mà chẳng liên quan đến má hay mẹ gì cả. Bánh tét mà gói thật chặt, chẳng thể nào tét được. Bánh dày thì lại mỏng hơn bánh chưng. Bánh chưng thì phải nấu thật lâu mới chín chứ không phải dùng cách chưng hơi hay chưng hấpNước lèo trong nồi hủ tiếu thì chẳng phải theo kiểu nước Lào (hay Lèo). Trái sầu riêng thì ăn vô chẳng thấy sầu riêng hay sầu chung chi cả. Bưởi Năm roi rất tuyệt nhưng sao đúng là năm roi? Trái vú sữa, Cây dái ngựa thì thật là tượng hình. Hi hi... Ngôn từ bây giờ cũng thế, cò đất, cò nhà... thì chẳng dính dáng gì đến "con cò, cò bay lả, lả bay la..." cả.

Tôi cũng chẳng vừa:

- Thế cái món hot dog của mấy ông có liên quan gì đến con chó không? Món bánh mì kẹp thịt bò băm Hamburger của Mc Donald thì đâu có thịt heo (ham). Trái thơm, trái khóm "pineapple" thì chẳng có gì liên quan đến pine (cây thông) và apple (trái táo) cả? Vào phòng thí nghiệm sinh học, ông Giáo sư bảo bắt một con "Guinea pig", nghe qua tưởng đâu là con heo xứ Guinea (ở Tây Phi Châu, giáp với Senegal, Mali, Liberia, Sierra Leone và biển Bắc Ðại Tây dương) nhưng ngờ đâu là một giống chuột tên là Guinea (ở Guinea không có giống chuột này!). Ðáng lý chữ football (bóng đá) thì phải viết là legball chứ, bởi vì người ta đá banh bằng cả cái chân (leg) chứ đâu chỉ cái ống chân foot từ dưới đầu gối đến trên bàn chân? Mới đây, khi dân Pháp không chịu ủng hộ Mỹ trong vụ chiến tranh Iraq thế là mấy dân biểu Mỹ giận đòi đổi tên món khoai tây chiên French fries bằng chữ American fries thì mấy ông Tây lại ôm bụng cười chế riễu rằng món French fries không phải xuất xứ từ Pháp mà từ ... Mỹ và là món ăn của dân Mỹ. Có lẽ mấy ông Mỹ tiền bối xưa, khi làm món này đặt tên là khoai tây Pháp cho nó có vẻ ... ngoại cho sang, giống như bây giờ một số quán ăn Việt Nam có thực đơn Lẫu Thái, Bún Singapore, Bánh bao Mã lai, Cá chiên viên Singapore, Hủ tiếu Nam Vang, ... mặc dầu nguyên liệu và cách nấu gần như 100% của Việt Nam???

Johnson gật gù:

- Ừ, cũng đúng. Nhưng lúc đầu học tiếng Việt, tôi thấy khó quá, đã lấy 24 chữ cái A, B, C của vần La tinh rồi mà bày ra thêm a, â, ă, u, ư, ơ, d, đ, ... nữa. Lại thêm kèm 5 dấu sắc ('), huyền (`), hỏi (?), ngã (~), nặng (.) và không dấu ( ) nữa. Như le, lé, lè, lẹ, lẻ, lẽ, mỗi chữ mang một nghĩa khác nhau. Rồi phải học cách bỏ dấu ở đâu trong từ cho chính xác nữa chứ. Hòa hay là hoà. Li hay là ly? Có câu thơ về dấu này cũng hay:
Chị Huyền mang nặng ngã đau,
Sao không sắc thuốc, hỏi sao cho lành ?!

Trong ngôn ngữ Việt Nam, tôi thấy nhiều chữ ghép với chữ ăn mặc dầu nó chẳng ăn nhập đến chuyện bỏ thực phẩm vào miệng, nhai và nuốt xuống gì cả. Nói ăn nhậu, ăn tiệc, ăn mùng, ăn cưới, ăn giỗ, ... thì có lý nhưng sao lại ăn nằm, ăn hút, ăn tiền, ăn lương, ăn cắp, ăn mày, ăn chặn, ăn quỵt, ăn diện, ăn đòn, ăn công, ăn năn, ăn hiếp, ăn khách, ăn ảnh, ...

Tôi bật cười chận ngang khi Johnson tiếp tục ghép chữ với từ ăn:

- Thì như tiếng Mỹ của ông vậy thôi. Chữ to get khó dịch gì ra hồn cả. Tôi cũng có nghĩ là khi mình chưa tìm ra động từ nào thích hợp thì dùng tạm luôn chữ to get! Khi quân đội Mỹ bắt sống được Saddam Hussen ở Iraq thì tuyên bố "We got him!", sao không dùng động từ to catch, to caught, to force, to find, to capture, to pick up, ...cho rõ nghĩa? Rồi động từ to get đi kèm các giới từ in, into, on, out, up, at-able ... thành một loạt động từ mới. Các động từ to take, to put, to be... cũng vậy.

Johnson chuyển qua phần khác:

- Chuyện mạo từ tiếng Việt cũng làm rắc rối người nước ngoài. Người Việt nói cái bàn, cái nhà, cái gường, cái nón...nhưng không thể nói cái chó, cái mèo mà phải là con chó, con mèo, con người.... Ðồ vật là cái, động vật là con. Bây giờ nhiều cô cậu thanh niên Hà Nội thay vì nói cái xe Honda Dream thì lại dùng từ con Ðờ-rim, rồi tiếp là con Su(Suzuki), con a còng (@), con Tô (Toyota), con Mẹc (Mercedes)... Vợ chồng tôi có chuyện vui thế này: Tôi quen vợ tôi, một phần vì yêu các cô gái Việt Nam, một phần cũng để trau dồi thêm tiếng Việt. Hôm hôm chúng tôi ra Hồ Gươm dạo chơi, tôi khen: "Con hồ này đẹp quá!". Vợ tôi "chỉnh" liền: "Không, anh phải nói là cái hồ này đẹp quá!". Vậy mà đi ngang sông Tô Lịch thấy nước đen ngòm, tôi nói: "Cái sông này bẩn quá!" thì vợ tôi "sửa" ngay: "Ậy, anh phải nói là con sông này bẩn quá chứ không nói là cái sông!". Tôi la lên: "Ồ, sao lại thế, khi là cái, khi là con, làm sao phân biệt?". Vợ tôi ôn tồn giải thích: "Cái gì động dậy, nhúc nhích thì gọi là con, như con sông có nước chảy, còn cái gì nằm im như cái hồ nuớc tĩnh mịch thì phải là cái hồ. Con chó, con mèo nó chạy được nên phải là con. Cái nhà, cái bàn, cái cột đèn đâu có di chuyển được nên phải là cái. Rõ chửa?". Lúc đó, tôi phá lên cười vì phát hiện một điều vô cùng thú vị: "À, anh hiểu rồi! Tiếng Việt thật hay. Hèn gì cái... cái của anh nó nhúc nhích lên xuống nên phải gọi là con ..., còn của... em, nó nằm im một chỗ nên phải gọi là cái, cái... Ha ha...". Hôm ấy, tôi bị mấy cái nhéo đau điếng, nhưng bù lại, có được một đêm hạnh phúc.

Tôi thấy tức cười vô cùng với anh bạn Mỹ này:

- Tôi cũng có chuyện hiểu lầm trong phát âm tiếng Mỹ như thế này. Trong một bữa tiệc với các sinh viên quốc tế, tôi nhận phần phục vụ nước uống. Gặp bà giáo người Mỹ đã đứng tuổi, tôi đến chào lịch sự và nói theo kiểu cách theo kiểu của người Việt: "Good evening, Madam. May I have a honour to serve you? Do you like my Coke?" (Chào bà, Tôi có thể hân hạnh phục vụ quí bà. Bà có muốn món Coke (Coca Cola)?). Bà này trợn mắt nhìn tôi, ra vẻ ngạc nhiên, rồi lắc đầu bỏ đi. Tôi băn khoăn chẳng hiểu chuyện gì? Hôm sau, tôi đánh bạo đến hỏi bà: "I am sorry, yesterday I have found your strange look when hearing my invitation. Was there a wrong?" (Xin lỗi, hôm qua tôi thấy bà nhìn tôi kỳ lạ khi nghe lời mời của tôi. Có điều gì không ổn vậy?). Bà giáo mỉm cười độ lượng: "Yes, I had misunderstood yours. Today, I just find out that your pronunciation is not correct. You said "Coke" not sound like "Coke" but "Cock". Cock is a male chicken but it also has a dirty meaning else. You should be careful when saying this word to a lady". (Vâng, tôi đã hiểu lầm anh. Hôm nay, tôi mới hiểu ra là anh phát âm không đúng. Anh nói chữ "Coke" mà không giống "Coke" mà thành "Cock". Cock là con gà trống nhưng nó cũng có một nghĩa khác xấu. Anh phải cẩn thận khi nói từ này với một phụ nữ).

Johnson "gỡ gạc":

- Hi hi... Anh bạn người Việt dẫn tôi đến thăm nhà, đến trước ngôi nhà của mình anh nói: "Ðây là nhà tôi, mời ông vào chơi", gặp vợ anh ta ra đón trước cửa, anh ta lại giới thiệu: "Ðây là nhà tôi, mời ông vào chơi". Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng không hỏi và bước vào nhà, nhà anh ta thật đẹp (vợ anh ta cũng vậy!). Tôi ra lịch sự nên khen chủ nhà và nói: "Nhà anh và nhà anh thật đẹp".

Hai vợ chồng nhìn nhau cười. Vì đi lâu ngoài đường, lại không có WC công cộng, nên tôi hỏi anh chủ nhà "Xin ông cho tôi vào cái chỗ đi toilet của nhà ông được không?" Hi hi... lúc đó tôi không nghĩ đến cái sự buồn cười của câu này, hôm sau
nghĩ lại tôi mới thấy.

Tôi cười to kể tiếp:

- Lần đầu tiên sang Châu Âu cách đây 10 năm, tôi quen một cô sinh viên Hà Lan. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Cô rủ tôi ra bãi biển nằm phơi nắng và nói chuyện. Hôm đó, tôi chẳng đem theo cái gì để trải xuống bãi cát để nằm cả. Nói với cô này, thì cô mỉm cười: "Oh, never mind. You can lie down at my top" (Ồ, không sao. Anh có thể nằm trên cái top của tôi). Tiếng Anh của tôi cũng chẳng giỏi gì nên chẳng hiểu là nằm trên top là nằm ở đâu? Tôi chỉ biết top có nghĩa là đỉnh, là ở trên. Vậy nằm ở trên là nằm đâu? Nằm trên đầu thì chắc là không đúng rồi, ai lại nằm trên đầu mà nói chuyện với phụ nữ. Chẳng lẽ nằm trên... mình cô này? Hồi lúc trước đi Tây, tôi nghe nhiều thằng bạn kháo nhau rằng, phụ nữ Tây nó... Tây lắm, thích thì sẵn sàng... chiều! "Tình cho không biếu không" mà. Vậy là... lẽ nào ??? Tới nơi, tôi mới bật cười và thấy mắc cỡ trong lòng khi thấy cô này cởi áo khoác ra, trải dưới bãi cát và chỉ tôi nằm trên đó. Tối đó, về đến nhà, tôi lặng lẽ lật từ điển Anh - Việt ra xem, mới biết thêm là top còn có nghĩa là cái áo khoác ngoài của phụ nữ. Trời ơi!

Johnson vỗ vai tôi:

- Chút xíu nữa bạn là... hố to rồi. Ha ha... Năm ngoái, tôi có đến thăm miệt vườn Nam bộ, tôi có nghe một câu thế này mà lúc đó chẳng thế nào hiểu được: "Hôm qua, qua nói qua qua mà qua hổng qua. Hôm nay, qua hổng nói qua mà qua lại qua"
.................

Câu chuyện của chúng tôi còn dài. Chia tay với Johnson ở ga Huế. Lững thững dọc theo con đường về chợ Ðông Ba, trong đầu còn vương vấn câu chuyện rắc rối tiếng Việt với Johnson, ông già chạy xích lô lẽo đẽo theo sau:

- "Ôn đi về mô khôn hè?"

Tôi gật đầu, bước lên chiếc xe cũ rích, buộc miệng:
- Có tiệm sách nào gần đây nhất, Bác? Tôi muốn mua một quyển Tự điển Tiếng Việt.

Tôi bất chợt nhớ ra rằng, trong tủ sách gia đình của tôi, có đủ loại tự điển các nước, nhưng chưa hề có một quyển Tự điển Tiếng Việt nào.

( Theo HVA)

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

NHÀ THỜ GỖ KONTUM

Nhà thờ gỗ Kontum - tiếng chuông giữa đại ngàn

Những nét đẹp và câu chuyện về phố núi bên dòng Đắk Blah còn đó như món quà bất ngờ giành cho ai một lần ghé qua Kon Tum. Nơi đây sở hữu một "báu vật" được xem là di tích cổ và đẹp nhất với kiến trúc độc đáo có tuổi đời gần trăm năm – nhà thờ Chánh tòa Kon Tum có tên gọi gần gũi hơn là Nhà thờ gỗ, từ lâu đã trở thành niềm tự hào của những người con Tây Nguyên.
Nhà thờ gỗ do một linh mục người Pháp khởi công xây dựng năm 1913, hoàn thành năm 1918, tọa lạc giữa trung tâm thị xã Kon Tum. Công trình này được những bàn tay tài hoa của nghệ nhân Bình Định, Quảng Nam xây theo phương pháp thủ công với kiến trúc kết hợp giữa phong cách Roman và kiểu nhà sàn của người Bana, là sự giao thoa giữa văn hóa Tây Nguyên và văn hóa châu Âu.
Trần và tường nhà thờ được xây bằng đất trộn rơm theo kiểu làm nhà truyền thống của người miền Trung. Thế nhưng, thật đáng khâm phục là gần một thế kỷ trôi qua, thánh đường vẫn chưa có dấu hiệu nào của sự xuống cấp. Những dãy ghế gỗ sắp thẳng tăm tắp bên trong cũng góp phần tạo chiều sâu cho không gian thêm trang nghiêm, mang đến cảm giác an bình cho du khách.












Được xây chủ yếu bằng gỗ cà chít, nhà thờ là một công trình khép kín gồm thánh đường, nhà khách, phòng trưng bày về phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc, nhà rông. Thánh đường còn có rất nhiều khung cửa kính màu vẽ các điển tích trong Kinh thánh, có tác dụng lấy ánh sáng và tạo thêm vẻ tráng lệ cho thánh đường. Nhà thờ gỗ Kon Tum chinh phục lòng bao người không chỉ vì bố cục của nó được sắp xếp hài hòa, kiến trúc của nó lộng lẫy mà cái đẹp nơi đây được tôn thêm nhiều bởi nhà thờ luôn biết nâng niu, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Ảnh: Khuê việt Trường

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

NGHỆ THUẬT SỐNG

NGHỆ THUẬT SỐNG

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử,

 sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.

Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư:

 Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?

 Ngài Tinh Vân bảo:

 Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

1 // Thứ nhất , “học nhận lỗi”.

Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

2 // Thứ hai, “học nhu hòa”.

Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

3 // Thứ ba, ” học nhẫn nhục”.

Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

4 // Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

5 // Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

6 // Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

7 // Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.

( SƯU TẦM)

MỘT CÕI ĐI VỀ

MỘT CÕI ĐI VỀ


Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta, đôi vầng nhật nguyệt
Dọi suốt trăm năm một cõi đi về.
………………….
Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa
Mưa bay trong ta, bay từng hạt nhỏ
Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng biết nơi nào là chốn quê nhà.
…………………
Trong khi ta về, lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì.

                                                                                                            Trịnh Công Sơn

***************************
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi”, đi hoài đi mãi cho đời mỏi mệt, loanh quanh luẩn quẩn như kiến miệng chén, đi suốt kiếp người mà không biết mình đi đâu, về đâu?  Đi mà “chẳng biết nơi nào là chốn quê nhà”, đi mà không biết cái đích mình sẽ đến, cái nơi mình xuất phát.  Đến nơi này lại nhớ nơi kia, “ta về lại nhớ ta đi”, nếu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã không biết mình đi đâu thì hậu thế hôm nay ai dám biết chắc ông đã về nơi đâu và đang ở đâu?
Bài Phúc âm Chúa Giêsu biến hình hôm nay, Chúa mời gọi ba môn đệ Phêrô, Gioan, Giacôbê “đi riêng” ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, đến một ngọn núi cao, thanh vắng, không tiếng người, không bon chen ồn ào, tránh xa “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”…. và ở đó, Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông.  Trong không gian tĩnh lặng, các ông nghe được tiếng nói của Thiên Chúa từ trời cao: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9:7).  Hạnh phúc ngất ngây ở bên Người, mắt phàm được mạc khải vẻ huy hoàng rực rỡ của Thiên Chúa đã làm các ông quên tất cả, quên đường về, quên cha mẹ vợ con, quên bổn phận của mình và của Thầy dưới núi.  Ở đây không có cảnh “ta về lại nhớ ta đi” hay “ta trên núi lại nhớ ta dưới núi” cho thế nhân biết các ông đã cảm nghiệm được một hạnh phúc tuyệt đối đích thực.  Chỉ một vài giây phút cảm nghiệm hạnh phúc ngắn ngủi mà các ông sẵn sàng đánh đổi mọi sự để chiếm cho bằng được hạnh phúc đó, dù có phải qua đồi Golgotha máu chảy lệ rơi!
Nếu hôm xưa Chúa mời gọi các ông “đi riêng” với Ngài mà các ông từ chối thì chắc chắn các ông sẽ không bao giờ có được cảm nghiệm tuyệt vời đó!
Thiên Chúa không chỉ mời gọi ba môn đệ “đi riêng” với Người cách đây hơn 2000 năm.  Thiên Chúa cũng không chỉ biến hình một lần duy nhất trên núi Tabor. 
Thiên Chúa đang mời gọi mỗi người chúng ta “đi riêng” ra một chỗ với Người mỗi ngày trong cuộc sống đầy bận rộn.  “Đi riêng” để Người có dịp cho ta chứng kiến vinh quang của Người, “đi riêng” đến một nơi thanh vắng để nghe được tiếng Thiên Chúa nói trong đáy lòng mỗi người. 
Ngài mời gọi và chúng ta có đáp lại tiếng mời gọi để cùng “đi riêng” với Ngài hay không?
Cuộc sống bận rộn cứ mãi vần xoay và chẳng ai tìm đâu chút thời giờ để “đi riêng” với Người.  Phải, kiếp người như con cù, xoay hoài xoay mãi, xoay theo đòi hỏi nhu cầu của xã hội:  nhà cửa, xe cộ, tiền tài, các hoá đơn chồng chất, sự nghiệp của mình, tương lai con cái …. rồi mỏi mệt nhắm mắt xuôi tay mới chua chát nhận ra rằng “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”, và đôi tay đó đã bóp chết bao kiếp người trong những nhu cầu tầm thường.

***************************
Lạy Chúa Giêsu Chí Thánh, mặc dù cuộc sống đầy những bận rộn lo toan nhưng xin cho con biết thu xếp thời gian để “đi riêng” ra một chỗ với Ngài, để có được những cảm nghiệm riêng tư giữa con và Ngài, để lắng nghe tiếng Ngài nói nơi tâm hồn con.  Chúa ơi, mặc dù “trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ” với Ngài nhưng con biết vinh quang Thiên Chúa thì vô biên không bút mực nào tả xiết, con biết nếu con đáp lại lời mời gọi “đi riêng” với Ngài thì con sẽ được hội ngộ với Ngài ngay từ đời này, xin cho con tin chắc rằng con sẽ được hội ngộ với Ngài mãi mãi trong một ngày gần đây, và xin cho con sống và chết cho niềm tin đó.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

DAI HOI SONG NGUYEN THE GIOI

  
ĐẠI HỘI SONG NGUYỀN THẾ GIỚI KỲ IV (30, 31/1 & 1/2/2012)
KỶ NIỆM 25 NĂM THÀNH LẬP CHƯƠNG TRÌNH THĂNG TIẾN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
TẠI LINH ĐỊA LA VANG, HUẾ
Phần Một
Giữa tiết trời mùa Xuân tràn trề sức sống, nối tiếp không khí vui tươi của những ngày Tết Nhâm Thìn, Đại Hội Song Nguyền Thế Giới kỳ IV với chủ đề "Ngân Khánh Bên Mẹ, Song Nguyền Yêu Thương" đã được tổ chức tại Linh địa La Vang vào ba ngày 30, 31/1 và 1/2/2012.
Đại Hội lần này là cột mốc đáng ghi nhớ đánh dấu chặng đường 25 năm (1987 - 2012) Chương trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình phục vụ các Gia đình trên khắp các châu lục, và 9 năm phục vụ tại Quê Nhà, hiện diện ở trên 20 trong 26 Giáo Phận cả ba Miền Bắc, Trung và Nam. Thật ra, 25 năm so với lịch sử của các Đoàn thể Công giáo Tiến hành kỳ cựu khác chỉ là quãng thời gian rất khiêm tốn. Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa, 25 năm nỗ lực góp phần đem lại hạnh phúc đầm ấm cho các gia đình khi định chế căn bản này đang bị xói mòn lung lay, là điều đáng ghi nhận; 25 năm, nhờ sự phù trì của Thánh Gia, bền bỉ làm chứng tá Gia đình Kitô giáo giữa một xã hội tục hóa vô luân là nỗ lực cần khuyến khích; 25 năm theo học trường Giêsu - Ngôi Hai Nhập Thể, lấy đức Khiêm Nhường làm nền tảng để tìm lại “cái hay ban đầu” và giúp mọi người có được sự “Yêu thương gần gũi bằng việc làm” là một việc làm cần thúc đẩy.
Nhưng trên hết, qua một phần tư thế kỷ trên đường trần gian nhiều giông bão mà đến nay Chương Trình vẫn còn hiện diện và tiếp tục phát triển, thì chắc chắn đó phải là quãng thời gian đầy ân sủng và là công việc của Thiên Chúa Tình Yêu.
Vì thế, Đại Hội IV là thời gian Song Nguyền khắp nơi quây quần trong Nhà Mẹ để ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa; là lúc phủ phục dưới chân Từ Mẫu để cám ơn và xin ơn; là dịp bày tỏ lòng hiếu thảo với Mẹ Giáo Hội và tri ân các vị Chủ Chăn; là cơ hội trang trọng để nói lên lòng biết ơn Cha sáng lập, người đã khai sinh và dấn thân sống chết để phát triển chương trình nhằm mưu cầu hạnh phúc cho các Gia đình và ích lợi cho các linh hồn.
Mừng Ngân khánh chương trình cũng là dịp các anh chị em Song Nguyền khắp nơi quy tụ gặp gỡ, tâm tình, trao đổi cảm nghiệm, nâng đỡ và động viên nhau trong các hoàn cảnh buồn vui của đời sống.
Đồng thời đây cũng là lúc lắng nghe giáo huấn của Chủ chăn, hâm nóng Đoàn sủng của Chương Trình, và bàn thảo góp ý những "Cách Mới" để thích ứng với thời đại và hoàn cảnh hiện nay.
Với ý nghĩa và mục đích trên, Ban Tổ Chức đã xếp đặt nội dung cho 3 ngày Hội, mà các Thánh Lễ là cao điểm. Thánh Lễ Khai mạc có chủ đề "Ngân khánh bên Mẹ, song nguyền Yêu thương", Thánh Lễ Tạ Ơn vào ngày thứ 2 của Đại hội với ý nghĩa "Ngân khánh bên Mẹ, song nguyền Tạ ơn", và Thánh Lễ Bế mạc vào ngày cuối cùng là "Ngân khánh bên Mẹ, song nguyền Ra đi".
***
Những cơn mưa dai dẳng trái mùa của xứ Huế làm những con đường đất đỏ dẫn vào Linh địa trở nên lầy lội. Tuy nhiên, những khó khăn bên ngoài không ngăn được bước chân của các Song nguyền; sự khắc nghiệt của thời tiết và trở ngại lối đi chỉ làm tăng thêm giá trị của lòng mộ mến Thánh Mẫu và sự nhiệt tình dành cho Đại Hội.
Rải rác từ chiều Chúa Nhật 29/1/2012, trên quốc lộ 1 đã có nhiều chuyến xe chở hàng trăm Song nguyền từ hai hướng Bắc và Nam trực chỉ Trung tâm Thánh Mẫu. Đến 2 giờ chiều ngày 30/1 thì bãi đỗ xe của Trung tâm không còn một chỗ trống.
Vừa đặt chân vào sân Nhà Hành Hương, một biểu ngữ lớn được định vị phía trên tiền sảnh đập vào mắt mọi người "Đại Hội Song Nguyền Thế Giới kỳ IV - Kỷ Niệm Ngân Khánh Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình". Câu "Chào Mừng Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu sĩ và Gia Đình Song nguyền" treo ở đường chính ra Linh đài Đức Mẹ, dọc 2 bên lối đi có rất nhiều pa-nô với nội dung thắm đượm Đoàn sủng của Chương Trình.

Đại Hội lần này quy tụ gần 1.600 Song nguyền từ khắp 3 miền Bắc Trung Nam, trong đó có khoảng 150 anh chị đến từ các tiểu bang Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Úc châu, Nhật Bản và Singapore. Cuộc hành hương cũng được sự đồng hành của 23 Cha Linh nguyền, một Thầy Phó tế và nhiều nữ tu, có nhiều vị đến từ bên kia bờ đại dương.
Không khí ở khu vực Nhà Hành Hương thật náo nhiệt, vui tươi và gần gũi. Ban Lễ tân làm việc khá vất vả vì có quá nhiều người đến đăng ký cùng một lúc. Khắp nơi, từng nhóm song nguyền, người tay bắt mặt mừng chào hỏi, kẻ giới thiệu làm quen, có anh chị tranh thủ ghi hình kỷ niệm...
Đúng 4 giờ 30 chiều, Thánh Lễ Khai mạc Đại Hội "Ngân khánh bên Mẹ, Song nguyền yêu thương" được cử hành do Đức Cha Phanxicô Xavie Lê Văn Hồng, Giám Mục Phụ tá TGP Huế thay mặt Đức Tổng Giám Mục Têphanô, chủ sự. Cùng đồng tế với ngài có Cha Sáng lập Phêrô, Cha Quản nhiệm Giacôbê Lê Sĩ Hiền, Cha Tổng Linh nguyền Việt Nam Giuse Vũ Dần, Quý Cha Tổng linh nguyền các nơi và các Cha Linh nguyền.
 
Đầu Thánh Lễ, Cha Phaolô Nguyễn Luận, Giám nguyền Việt Nam, đọc diễn từ khai mạc Đại Hội. Sau khi thay mặt Ban Tổ chức chào mừng Đức Cha Phụ Tá TGP Huế, Quý Đức Cha, Cha Sáng lập, Cha Quản nhiệm và Quý Cha, cùng Quý tu sĩ và toàn thể anh chị em Song nguyền, ngài nói:
 
"Từ ngày Chương trình được thành lập năm 1987, nay đã lan rộng đến nhiều quốc gia, và đã hiện diện trên Quê Hương yêu dấu Việt Nam khắp Bắc Trung Nam. Có hơn 20 trên 26 giáo phận đã sinh hoạt trong Chương trình. Đó là do sáng kiến và công lao của Cha Phêrô Chu Quang Minh, người sáng lập Chương trình. Nhưng trên hết, Chương trình được mở rộng ra khắp nơi như thế, là nhờ các Đấng Bản quyền chuẩn nhận, giới thiệu…cũng như sự hưởng ứng nồng nhiệt của các gia đình, vì mọi người đều cảm nhận được Chương trình đã mang lại một sức sống mới, niềm vui mới cho đời sống hôn nhân gia đình của mình, theo mục đích của Chương trìnhlà “YÊU THƯƠNG GẦN GỦI BẰNG VIỆC LÀM…”
Trong lời dẫn lễ, Đức Cha Phụ Tá Phanxicô Xaviê xác định:
"Hôm nay, chúng ta quy tụ về đây, bên linh đài của Mẹ La Vang, để cử hành Đại Hội Song Nguyền, dịp ngân khánh của chương trình thăng tiến đời sống hôn nhân và gia đình Công giáo.
Gia đình và hôn nhân là hai yếu tố nền tảng có tính cách quyết định cho sự sống còn và phát triển của xã hội và Giáo Hội. Vì thế, từ sau công đồng Vaticanô II, Giáo Hội đã đặt mục vụ gia đình lên một tầm cao mới, đã gọi gia đình là Giáo Hội thu nhỏ…"
 
Phần giảng lễ, căn cứ trên bài Phúc âm "Tiệc cưới Cana" (Ga 2,1-11), sau khi nhấn mạnh và triển khai 2 điểm cần lưu ý: đây là phép lạ đầu  tiên của Đức Giêsu và sự hiện diện của Đức Maria, Đức Cha chủ tế nói tiếp: "Bữa tiệc vui nào rồi cũng phải kết thúc sau vài giờ ngắn ngủi, nhưng bữa tiệc hôn phối, giữa đôi song nguyền phải kéo dài cả một đời người. Để duy trì được niềm vui, để có đủ rượu nồng sưởi ấm cho tình yêu đôi lứa suốt đời là một điều khó khăn." Rồi dựa vào Thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côlosê (Col 3, 12-13), ngài quả quyết: Tình yêu trong hôn nhân phải là một tình yêu dựa trên sự hy sinh, nhẫn nhục và tha thứ. Cuối cùng ngài kết luận: Như trong tiệc cưới Cana, "Hôm nay, trong đời sống hôn nhân, Chúa Giêsu và Mẹ Maria cũng đang hiện diện giữa gia đình anh chị em…Hãy lắng nghe lời của Mẹ Maria 'Ngài bảo gì các anh cứ việc làm theo' …"
Cuối Thánh Lễ, đại diện các song nguyền đã dâng lên Đức Cha và Quý cha lời cám ơn, đồng thời mừng tuổi và chúc Tết các ngài nhân dịp đầu Năm Mới. Các song nguyền cũng không quên kính xin Đức Cha Phụ tá chuyển đến Đức Tổng Têphanô tâm tình biết ơn, thảo hiếu và vâng phục.
Sau cơm tối, mọi người trở lại Nhà Thờ để Cung nghinh và chầu Thánh Thể do Cha Tổng linh nguyện Việt Nam chủ sự. Nội dung cuộc rước được Cha Phanxicô Xaviê Trần Văn Sỹ, Giám nguyền Giáo phận Bùi Chu biên soạn và hướng dẫn. Các song nguyền đã phủ phục  trước Thánh Nhan để thờ lạy, ca ngợi, và cầu xin ơn bình an, niềm hạnh phúc.
Sinh hoạt cuối cùng trong ngày là "Hội thi Chuông vàng Thăng tiến". Hơn 1.000 người tập trung về khu nhà hội rộng rãi và thông thoáng để cổ động cho Đội nhà. Sau phần giới thiệu Quan khách và các Chủ nguyền khắp nơi, 100 song nguyền đại diện cho các Quốc gia và Giáo phận được sắp xếp ở vị trí đã định sẵn trước sân khấu để tham dự cuộc thi. Nội dung cuộc thi được Ban tổ chức chuẩn bị và thông báo rộng rãi từ trước, với 100 câu hỏi trắc nghiệm nhằm giúp các song nguyền học hỏi Giáo huấn của Giáo hội về Gia đình và ôn  tập, hâm nóng Đoàn sủng của Chương Trình. Cuộc thi diễn ra thật hào hứng, đơn vị đoạt giải cuộc thi này là song nguyền Giáo phận Đà Nẵng.
 
22 giờ 30, Cha Tổng Linh nguyền xướng Kinh Sáng Danh và ban phép lành của Chúa cho mọi người kết thúc ngày đầu tiên của Đại Hội thật tốt lành …
NGUON ; TGP HUE

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

CHỮ PHÚC

,


Ti Sao Người Ta Treo Ch Phúc Ngược

Thỉnh thoảng chúng ta lại thấy được trên vài tấm thiệp chúc Tết hay trong tranh treo lại vẽ chữ PHÚC "ngược"
. Không phải là do viết sai hay in sai mà tục treo chữ phúc ngược có nhiều giai thoại kể lại nguồn gốc .
Sau đây là vài câu chuyện sưu tầm về nguồn gốc chữ PHÚC ngược xin gửi đến các bạn nhân ngày đầu năm mới
Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc
. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.
Từ đời nhà Minh (1368-1644), người ta thường khắc trên cánh cửa chính một chữ phúc lớn như để đón đợi hạnh phúc tới nhà, đúng như lời cầu mong của người Trung Quốc: , phúc tinh cao chiếu, nghĩa là sao phúc từng cao chiếu xuống hay câu: , đa phúc đa thọ, nghĩa là nhiều may nhiều tuổi thọ, thường dùng để chúc nhau.

Ngoài hình con giơi tượng trưng cho chữ phúc, người ta còn dùng trái phật thủ hay tranh ảnh vị phúc thần và vị môn thần dán trên cửa hay khắc trên mặt cửa vào đình chùa dinh thự 



Chữ PHÚC ngược

Ngày Tết nguyên đán, người Trung Quốc có tục treo thuận hoặc treo ngược chữ Phúc ở trên cửa. 
Có hai truyện truyền kỳ giải thích truyện này. Truyện thứ nhất là một truyện từ đời nhà Minh (1368-1644) về chữ phúc viết thuận.
Một hôm Minh Thái Tổ, Chu Nguyên Chương, vi hành tới một thị trấn nhỏ. 
Nhà vua thấy một đám đông người cười rỡn bên một bức họa. Tới gần, nhà vua thấy đó là một bức vẽ một bà già có bàn chân lớn quá khổ, tay ôm một trái dưa hấu.
Nhà vua nhận ra bà già này chính là hoàng hậu.
Nổi giận, nhà vua sai quân hầu theo dõi từng ngưòi trong đám người hỗn sược này về tận nhà, và viết chữ phúc trên cửa, để ngày mai nhà vua sẻ phái quân tời bắt.
Trở về hoàng cung, nhà vua kể lại truyện này cho hoàng hậu nghe. Hoàng hậu vốn sẵn từ tâm, bà khẩn sai quân hầu hỏa tốc tới thị trấn này viết chữ phúc trên cửa mọi nhà dân. 
Sáng mai quan quân tới sau, không còn cách nào nhận ra được những ai là kẻ bị nhà vua cho lệnh tới bắt.
Từ đó, người ta tin rằng chữ phúc, viết có thể dùng làm bùa hộ mạng cho mọi người.
Truyện thứ hai là truyền thoại từ đời nhà Thanh (1661-1911) về chữ phúc viết hay treo ngược.
Chiều ba mươi tết, quan phủ lý của thái từ Cung Thân, cho lệnh treo chữ phúc trên cửa những chính ra vào đông cung.
Có một tên lính hầu không biết chữ, treo ngược chữ Phúc. Thái từ nhìn thấy, nổi giận định trừng phạt tên lính hầu này.
Quan phủ lý vốn là người giầu từ tâm, liền nghĩ ra cách gỡ tội cho tên lính hầu.
Quan còn biết lòng thái tử khao khát may mắn để sớm lên ngôi báu.
Ngài tâu thái tử: chữ phúc treo ngược là chữ phúc đảo, , theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ đáo , nghĩa là tới. Vậy chữ phúc treo ngược là điềm báo phúc đang tới.
Thái tử hài lòng, không những không trừng phạt tên lính hầu mà còn trọng thưởng qua phủ lý và ban cho mỗi tên lính hầu năm lạng bạc. Quả là phúc đã tới với đám người này trong đêm trừ tịch đó.

Một giai thoại khác về chữ PHÚC

Tết đến, chữ Phúc thấy ở khắp nơi; trên quả dưa hấu, trên ổ bánh, hộp mứt, trên bao bì đủ loại quà... và trước cửa nhà người ta dán một chữ Phúc hay một câu "Ngũ phúc lâm môn".
Có mỗi một chữ Phúc thôi... thế mà biểu hiện ra không biết bao nhiêu dạng thức; lại nữa, "thế nhân đa cầu" nên Phúc được cộng thêm nhiều biểu tượng khác để chúc tụng nhau trong những dịp lễ lạt.

1. Chữ Phúc viết theo những lối chân, thảo, triện, lệ đã đành,còn có lối vuông (phương phúc tự), chữ tròn (đoàn phúc tự), rồi lại có nhiều đồ án biểu tượng "Ngũ phúc lâm môn" (Ngũ phúc: Phúc - Lộc - Thọ - Khang - Ninh) và đến "Bách phúc" (Trăm chữ Phúc) là tối đa, trên đời, ai mà được phúc nhiều 
2. Lại có tục dán hoặc treo chữ Phúc ngược, gọi là "Đảo Phúc", cốt mong cho điều phúc thay đổi không giống như những gì đã sở đắc của năm cũ. Truyền thuyết Trung Hoa kể rằng:
- Có một ông vua vào đêm cuối năm vi hành để xem xét cảnh dân tình ăn tết ra sao và ông thấy nhà nọ treo cái lồng đèn kéo quân, trên đó có vẽ cảnh tượng chế nhạo ngay chính Hoàng hậu.
Vua giận lắm, bèn với tay treo ngược chữ Phúc trước nhà người ấy, cốt đánh dấu đặng sáng mai sai quân cấm vệ đến bắt để hành tội.
Khi vua trở về cung, vẻ mặt còn giận.
Hoàng hậu thấy bèn gạn hỏi. Vua không giấu được liền kể lại sự việc. 
Hoàng hậu là người nhân từ nên sau đó sai đám thái giám ra khỏi hoàng cung, bắt mọi nhà đều treo chữ Phúc ngược lại.
Chính nhờ đó, mà sáng ra, quân cấm vệ không tìm được ai là người chơi đèn kéo quân nhạo báng Hoàng hậu. 
Câu chuyện này được coi là khởi đầu của tục treo chữ Phúc ngược.
3. Trong tiếng Hoa, dơi còn được gọi là "Phúc thử", do vậy dơi cũng được dung làm biểu trưng cho phúc.
Điều này khá phổ biến trong các đồ án trang trí kiến trúc cũng như các loại văn hóa phẩm khác (thiệp, bao lì xì, các loại lễ phẩm...). Dơi trong các đồ án
Chúc phúc thường là một con, hai con (song phúc) hoặc năm con (ngũ phúc).đến thế thì có lẽ chẳng còn cầu mong gì nữa!




Phổ biến nhất là các đồ án Chúc phúc và thọ (sống lâu - có phúc mà đoản mệnh thì phúc để làm gì?).
Do đó, câu "Phúc thọ song toàn" biểu thị điều mong cầu quan yếu của mỗi con người.
Trong các đồ án này chúng ta thấy có dơi (phúc), hai đồng tiền (song tiền = song tuyền, song toàn) và trái đào tiên (biểu thị cho trường thọ). Cũng có trường hợp khác: dơi (phúc) và chữ Thọ, gọi là Phúc hàm thọ. Nếu đồ án có năm con dơi thì gọi là Ngũ phúc phụng thọ.
Lại có khi, thọ được biểu thị bởi chim hạc - một loài chim sống lâu như rùa. 
4. Cũng có những đồ án cấu tạo gồm dơi và đồng tiền, nhưng lại biểu thị lời cầu chúc khác:
Phúc tại nhãn tiền.
- Đây là một mong cầu nhấn mạnh đến "tốc độ" của sự việc sẽ diễn ra: điều tốt lành hãy nhanh đến ngay... kẻo phải ngóng cổ trông chờ.
5. Chữ Phúc (hay có biểu trưng về phúc) tích hợp với các biểu trưng cát tường và tài lộc khác tạo thành nhiều đồ án,hình vẽ chúc tụng phong phú.
Phúc tích hợp với "Tụ bửu bồn" (bình chứa các vật quý: vàng, bạc, sừng tê, lá ngải băng, san hô đỏ, ngọc châu...) để chúc phúc và chúc giàu có, phát tài. 
Phúc tích hợp với cá (ngư, có âm là yu, đồng âm với dư) để chúc việc làm ăn, buôn bán có của dư của để.
Đồ hình trái lựu (Lựu khai bách tử: trái lựu nẻ ra nhiều hạt - biểu thị con cái đầy đủ, đông đúc, có nghĩa là "có phúc"), trái phật thủ (biểu thị sự phồn vinh), trái đào (sống lâu), cùng hai em bé thổi sáo là biểu thị câu chúc "Phúc thọ thường lạc".
Lại có đồ hình gồm con dơi (phúc), trái đào (thọ), với hai em bé (đồng tử) cầm khánh (nhạc cụ gõ)... biểu ý câu chúc "Phúc thọ cát khánh".
Hòa hợp là một yêu cầu quan trọng trong cuộc sống gia đình cũng như xã hội.
Do đó, khái niệm "hòa hợp", thường được biểu hiện trong nhiều đồ án cũng như tranh tượng bằng hình ảnh hai cô gái: một cầm hoa sen (Hoa sen biểu âm Hòa) và một cầm cái hộp (biểu âm Hợp)
. Phúc (dơi) tích hợp với biểu tượng hòa hợp biểu thị lời chúc Ngũ phúc hòa hợp.
6. Lời chúc mừng bao quát nhất là chúc "Tam đa" (đa thọ, đa nam, đa phúc). Lời chúc này, theo truyền thuyết là lời chúc của Phong Thủ 
Giả ở đất Hoa chúc tụng... ông vua Nghiêu thần thoại, thường gọi là Hoa phong tam chúc.
Ở đây, trái phật thủ chỉ sự giàu có, đào chỉ sự trường thọ và lựu hàm ý con cháu đông đủ
. Lời chúc Tam đa, về sau bị thay thế bởi lời chúc Phúc Lộc Thọ.
Đến nay thì tranh vẽ, tượng bởi ba ông Phúc - Lộc - Thọ phổ biến hầu như khắp mọi nhà.
Truy cứu về xa xưa, bộ ba Phúc - Lộc - Thọ vốn là ba vì sao chủ quản các việc quan yếu của con người ở thế gian:
Tử Vĩ Đại Để chuyên quản phúc vận của con người, gọi là Phúc tinh; Văn Xương Đế Quân chủ quản việc ban phát cho người ta công danh, lợi lộc gọi là Lộc tinh, và Đan Lăng Chân Nhân (ở Tiên đảo, Nam cực) chuyên quản việc giúp con người sống lâu nên gọi là Thọ tinh.
Như vậy, bộ ba Phúc - Lộc -- Thọ vốn bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ thiên tượng thời cổ. 
Tranh vẽ bộ ba này là thứ tranh thờ - có tên gọi là "Tam tinh tại hộ", biểu thị điều cầu mong có được nhiều phúc, nhiều lộc, sống lâu (tam đa trong một nhà), dựa trên nề tảng của tín lý "thiên nhân tương ứng", hiểu giản dị là con người sống thiện lương thì trời ban cho những điều tốt lành. 
Quan niệm ấy biểu hiện ở bức tranh "Bình an ngũ phúc tự thiên lai" (an lành và phúc báo từ trời đến), cũng như trong tập tục cúng lễ cầu Thiên quan tứ phúc vào ngày Thượng nguyên (rằm tháng Giêng) hàng năm. 
Nội hàm của quan niệm "có một chữ Phúc trời ban" này đã chỉ ra cái nền tảng đạo lý của các hoạt động mưu cầu hạnh phúc của chúng ta.

Theo Huỳnh Ngọc Trảng

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

CHUYỆN TẾT

CHUYỆN TẾT NGÀY XUÂN
Khi có chuyện gì phấn khởi, người ta thường nói “vui như Tết” hoặc “Tết nhất”. Điều đó chứng tỏ là Tết rất vui, luôn được mong chờ, luôn là ngày “nhất” trong năm. Ngày Tết, với trẻ em là niềm khao khát và vui mừng, với người lớn là trách nhiệm và bổn phận – và đôi khi có người không mong Tết, vì Tết đối với họ có thể buồn hơn ngày thường.
Đông lạnh qua, Xuân ấm đến, đó là quy luật tự nhiên của đất trời. Mùa Xuân là mùa của sự sống, cây cối nảy lộc, đơm bông, thể hiện tính trẻ trung và đổi mới. Mùa Xuân còn là dịp đoàn tụ, yêu thương, tha thứ, cùng tận hưởng và chia sẻ niềm hạnh phúc. Gặp nhau, ai cũng tay bắt mặt mừng, có gì sai sót trong năm cũ cũng bỏ qua hết, và trao nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Đó là “tống cựu, nghinh tân”, đặc biệt trong giây phút thiêng liêng nhất: Giao thừa. Ngày xưa, đêm giao thừa còn được gọi là đêm trừ tịch – khoảng thời gian thiêng liêng nhất trong năm, khi các gia đình sum họp, chuẩn bị đón năm mới với những điều tốt lành sẽ đến và tiễn trừ năm cũ với những muộn phiền đã qua.
Trong giây phút giao thừa, các gia đình lập bàn thờ cúng tổ tiên, khói nhang nghi ngút, bánh trái đầy bàn. Người ta thường đặt trên bàn các loại trái cây như: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài; theo phát âm tiếng Nam bộ là “cầu dzừa đủ xài”. Như vậy, kể ra người ta cũng không tham lam, còn giữ được “nhân chi sơ tính bổn thiện”. Người có máu khôi hài thì nói là bày trên bàn 4 thứ: chôm chôm, xoài, cái líp, cái gác baga; nghĩa là “chôm chỉa để xài líp baga” (xài líp baga là xài thoải mái). Dù chỉ đùa vui, nhưng chứng tỏ con người đã… biến chất “thiện”. Người ta còn bói Kiều và làm những nghi lễ trừ ma quỷ, người Công giáo cũng có thói quen đạo đức là rảy nước phép quanh nhà để trừ ma quỷ. Người Việt có tục lệ tốt đẹp:
Xuân về, mồng Một tết Cha
Mồng Hai tết Chú, mồng Ba tết Thầy.
Mồng Một tết Cha – Người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” được tôn trọng, đó một truyền thống tốt đẹp đầy tính nhân bản. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ là những người thân có công lao lớn đối với chúng ta, thế nên chúng ta phải dành “ưu tiên số một”. Thật vậy, đó không chỉ là nghĩa vụ của mọi người theo phần đời, vì “chim có tổ, người có tông, sông có nguồn”, mà còn là nghĩa vụ theo Công giáo, vì Thiên Chúa đã dạy: “Hãy thảo kính cha mẹ” (x. Hc 3,1-16). Nghĩa vụ thì phải làm, nhưng đồng thời có lợi cho chính mình: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng” (Hc 3,3-6). Và Thiên Chúa cũng cảnh báo: “Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa” (Hc 3,16).
Mồng Hai tết Chú – Đó là các thân bằng quyến thuộc, là họ hàng Nội Ngoại, là xóm giềng, là bạn bè, là ân nhân… Sống trên đời không ai có thể là một ốc đảo, vì cuộc sống là một xã hội, không trực tiếp liên hệ thì cũng gián tiếp liên hệ bằng nhiều cách. Người này có liên đới với người kia, dù có thể chỉ là một ánh mắt hoặc thái độ, thậm chí có thể chỉ qua ý nghĩ. Người này có trách nhiệm và bổn phận với người kia, dù là người dưng nước lã, dù là người chưa biết mặt quen tên. Hãy tết nhau bằng cách luôn triệt để tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền của nhau.
Mồng Ba tết Thầy – Thời phong kiến áp dụng trật tự xã hội: Quân – Sư – Phụ. Ở đây, chúng ta không nói chuyện “thứ tự trước sau” mà chú trọng tầm quan trọng của 3 cấp bậc. Trong đó người thầy được đề cao theo tinh thần “tôn sư trọng đạo”, và người Việt cũng khuyên: “Muốn con hay chữ hãy yêu lấy thầy”. Hán Việt dùng từ Sư Phụ, người thầy không chỉ là người dạy mà còn được coi như “phụ mẫu”. Thế nhưng ngày nay người ta không còn coi trọng lòng “tôn sư trọng đạo”, đó là dấu hiệu sa sút đạo đức!
Tết nhau không hẳn là món quà cáp bằng vật chất, có “khả năng” tết nhau một chút lễ vật thì cũng tốt, nhưng đừng câu nệ “quà cáp” mà “biến chất”, quan trọng nhất là cởi mở gặp gỡ nhau với cả tấm lòng, tết nhau bằng những ước muốn tốt đẹp, những lời cầu chúc chân thành, những lời cầu nguyện thành tín. Tiếng Việt thật thú vị khi dùng từ “gặp gỡ”: Gặp nhau thì phải “gỡ bỏ” mọi vướng mắc, không “gỡ” thì không thể nào “gặp” được. Đó là cách sống tích cực theo đạo làm người và theo tôn giáo của mỗi người.
Người Công giáo có “quy ước” riêng của Giáo Hội đối với 3 ngày Tết:
Mồng Một cầu xin Thiên Chúa
Ban cho thế giới bình an
Thể lý cũng như tâm hồn
Kiên vững niềm Tin, Cậy, Mến.
Bình an là điều luôn cần thiết đối với mọi người trong mọi thời và mọi nơi. Muốn sống bình an thì bạn phải tạo hoà bình xã hội, bạn không thể bình an khi xã hội rối loạn hoặc tinh thần chán nản. Bình an trước tiên là sức khoẻ – tinh thần và thể lý. Đúng như tục ngữ nói: “Sức khoẻ là vàng”. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!
Mồng Hai thành tâm khấn nguyện
Xin cho mùa màng bội thu
Công ăn việc làm thuận hòa
An tâm không phải thao thức.
Sống không thể chỉ hít thở khí trời và uống nước lã, vì thế con người cần mưu sinh. Muốn mưu sinh thì phải có nghề nghiệp, có công ăn việc làm. Công việc lại có liên quan và tuỳ thuộc thời tiết. Mùa màng bội thu thì con người hạnh phúc phấn khởi, mùa màng thất bát thì con người đói khổ. Nói vậy không có nghĩa là thời tiết chỉ quan trọng đối với nông dân, không có nông dân thì “kẻ sĩ” cũng không sống nổi. Mọi người đều liên đới với nhau về nhiều phương diện, không thể nói “nhất sĩ, nhì nông” hoặc “nhất nông, nhì sĩ”. Giới nào cũng có cái “nhất” và cái “nhì”, không ai “ưu thế” hơn ai.
Mồng Ba xin Chúa chúc phúc
Ban cho cha mẹ, ông bà
Luôn sống thánh thiện, an hoà
Vui cùng đàn con, lũ cháu.
Cầu nguyện cho người còn sống được an khang hạnh phúc là chuyện dĩ nhiên, chúng ta còn có bổn phận cầu nguyện cho những người đã “ra đi” trước chúng ta. Xuân về Tết đến, mọi người sum họp hữu hình, còn tổ tiên không thể sum họp hữu hình với đàn con, lũ cháu, nhưng họ vẫn khả dĩ sum họp vô hình với chúng ta.
Mùa Xuân là dịp nghỉ ngơi, vui chơi, cho phép người ta có thể tiêu xài “rộng tay” một chút. Tuy nhiên, đôi khi có thể người ta muốn chứng tỏ “đẳng cấp” của mình mà “chơi nổi” kiểu công tử Bạc Liêu, chưa tới mức “lấy tiền nấu trứng” nhưng cũng có vẻ muốn tỏ ra “đại gia”. Năm ngoái, có những người không ngần ngại chứng tỏ “bản lĩnh” đó: Có người mua cặp dưa hấu với giá 900.000 VNĐ, có người mua bộ phản gỗ (bộ ngựa) 100.000 USD, có người “khoe” là bỏ ra 20 triệu VNĐ để sắm tết,… Và còn nhiều “cách chơi” khác nữa.
Trong khi có những người “vung tay quá trán” như vậy thì vẫn có những con người chưa hưởng trọn vẹn mấy ngày Tết hoặc không hề có mùa Xuân. Một cậu bé 10 tuổi ở Đồng Tháp, ở với bà ngoại ngoài 80 tuổi, em chỉ mong Tết đến để được ăn món “khổ qua xào với trứng”. Được hỏi sao em ước mơ như vậy, em cười hồn nhiên và cho biết: “Vì chỉ có ngày Tết ngoại mới để dành đủ tiền để làm món đó”. Câu nói của em thật hồn nhiên nhưng sao nghe lòng nhói đau quá! Một ước mơ quá bình dị như vậy mà sao khó với em bé này đến vậy? Quả thật, cuộc đời còn biết bao con người khốn khổ, họ không mong Tết, mà có mơ cũng không thấy!
Xã hội khó có thể trở thành thế giới đại đồng, nhưng cũng có thể tương đối, nếu người giàu biết bớt phần lãng phí để chia sẻ với người nghèo. Thực ra, đó là trách nhiệm và bổn phận của đạo làm người.
Chuyện giàu – nghèo là lẽ tất nhiên ở đời, nhưng vẫn là một ẩn số vô cực. Mùa Xuân là mùa của ngàn hoa tươi sắc, lòng người cảm thấy rạo rực khó tả, có những khuôn mặt rạng rỡ nụ cười và cười “hết cỡ thợ mộc”, nhưng cũng có những khuôn mặt còn ủ rũ, đôi môi khô héo, lòng luôn trĩu nặng…
Chúa Giêsu luôn hết lòng quan tâm và chăm sóc người nghèo, Ngài đã “chắc nịch” xác định: “Mỗi lần anh chị em làm điều gì cho một trong những người bé nhỏ nhất của Tôi, đó là anh chị em đã làm cho chính Tôi vậy” (Mt 25,40).
Ngài muốn chúng ta NÓI và LÀM, không nói suông, không hứa lèo, không chỉ mở lòng mà còn phải mở đôi tay và mở hầu bao. Mỗi ngày chúng ta nhiều lần cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha (x. Lc 11,1-4), chúng ta thấy Ngài nói thực tế, không hề bóng gió: “Không lẽ người ta xin cá thì lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc người ta xin trứng lại cho họ bò cạp?” (x. Lc 11,9-12).
Xuân về, Tết đến, đó là mùa yêu thương, mà yêu thương thì phải chia sẻ, chia sẻ cả vật chất lẫn tinh thần, vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17.26). Hãy chân thành tặng nhau một mùa Xuân tươi đẹp nhất, rộn rã nhất và trọn vẹn nhất!
Mùa Xuân thắm sắc mai vàng
Bình minh toả ánh nắng vàng lung linh
Giáo đường vang vọng lời kinh
Hồi chuông đổ nhịp ân tình ngàn năm
Tin yêu nở giữa mùa Xuân
Hồng ân Cứu độ tuôn tràn bao la…
Cầu mong cho xã hội luôn biết tôn trọng công lý để xã hội có nền hòa bình đích thực. Cầu mong cho mọi người biết yêu thương nhau bằng tình đồng loại trọn vẹn để ai cũng được tôn trọng nhân quyền đúng nghĩa và có thể tận hưởng mùa Xuân viên mãn nhất. Nhờ vậy mà “Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”!
Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa-Xuân-Tuyệt-Đối và là Mùa-Xuân-Vĩnh-Hằng của chúng con, xin giúp chúng con sống trọn ba đức đối thần (tin, cậy, mến) và các nhân đức đối nhân để chúng con thể hiện Lòng Chúa Thương Xót trong từng hơi thở. Xin Ngài thương xót những mảnh đời cơ cực, để họ có chút niềm vui ngày Xuân. Xin Ngài cũng thương chúc phúc và ban cho chúng con được ơn Khôn ngoan, vì “tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Đức Chúa, và khôn ngoan vẫn ở với Người đến muôn đời” (Hc 1,1). Chúng con cầu xin nhân Danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.
Trầm Thiên Thu

Bài đăng phổ biến